BỆNH AMIP CÓ NGUY HIỂM KHÔNG?

trangchu:h2;top:h3;bottom:h3;trai:h3;phai:h3;TrangDanhMuc:h2;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

BỆNH AMIP CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

Entamoeba histolytica phổ biến trên thế giới, nhất là các nước nhiệt đới, khí hậu nóng ẩm, Entamoeba histolytica ký sinh ở đại tràng, là amip ở người có khả năng gây bệnh thật sự. Bệnh lậy truyền do nuốt phải bào nang hiện diện trong thức ăn, nước uống. Đa số trường hợp không có triệu chứng, nếu có, biểu hiện thường gặp là lỵ amip. Ngoài ra, amip có thể gây bệnh ở các cơ quan khác như áp-xe gan, áp-xe phổi – màng phổi…

BỆNH AMIP CÓ NGUY HIỂM KHÔNG? BỆNH AMIP CÓ NGUY HIỂM KHÔNG?
Bệnh Amip gây áp xe gan Bệnh Amip gây áp xe phổi

1. HÌNH THỂ BỆNH AMIP

Entamoeba histolytica gồm ba thể :

Thể histolycia

Còn gọi là thể hoạt động ăn hồng cầu kích thước 20µm – 40µm, chuyển động nhờ chân giả theo một hướng nhất định. Nguyên sinh chất gồm nội và ngoại nguyên sinh chất phân biệt rõ. Nội nguyên sinh chất (tế bào chất) thường ăn hồng cầu khi thể hoạt động được phân lập từ phân bệnh nhân có triệu chứng. Tế bào chất không có ty thể, lưới nội được bào tương thô và thể Golgi nhưng có nhiều không bào với kích thước thay đổi 0,5 µm – 9,0 µm. Thể hoạt động có một nhân duy nhất hình tròn, đường kính 4 µm – 7 µm; các hạt nhiễm sắc xếp đều đặn ở màng nhân; nhân có nhân thể ở giữa đường kính 0,5 µm.

Đây là thể gây bệnh, xâm lấn mô nhờ có men tiêu hủy protein, sinh sản bằng cách phân chia. Hình dạng và sự di động bị ảnh hưởng rất nhiều bởi sự thay đổi nhiệt độ, pH, độ thẩm thấu và khả năng oxy hóa khử, chết nhanh khi ra khỏi cơ thể quá 2 giờ.

Thể minuta

Còn gọi là thể hoạt động không ăn hồng cầu kích thước 10 – 12 µm, nhỏ hơn thể histolytica, sống hoại sinh trong lòng ruột già nhờ cặn bã thức ăn, vi trùng. Thể minuta có thể chuyển sang dạng bào nang hay thể hoạt động ăn hồng cầu tùy vào điều kiện sống trong lòng ruột già.

Thể bào nang.

Hình cầu hay hơi bầu dục, kích thước 10-16µm, vách bào nang chiết quang và tương đối dày 125 – 150nm nhờ vậy thể bào nang đề kháng được với ngoại cảnh. Tế bào chất có 1 – 4 nhân, nhân thể ở giữa nhân; không bào chứa glycogen, không bào này có xu hướng biến mất khi bào nang trưởng thành (bào nang bốn nhân). Ngoài ra còn có thể vùi (thể chrimatoid) do ribosome tập hợp lại, hình que tù hoặc tròn hai đầu.

Thể này tìm thầy trong phân và là thể lây bệnh từ người này sang người khác.

BỆNH AMIP CÓ NGUY HIỂM KHÔNG?

Hình thể bệnh Amip


2. CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN BỆNH AMIP

Gồm hai chu trình: không sinh bệnh (trong lòng ruột) và sinh bệnh (vách ruột già và mô).

Chu trình không sinh bệnh.

Người bị nhiễm Entamoeba histolytica do nuối bào nang bốn nhân qua đường tiêu hóa. Khi vào đến dạ dày, bào nang không bị biến đổi bởi môi trường acid dạ dày, do đó không bao giờ bị nhiễm thể hoạt động qua đường tiêu hóa. Mặt khác, thể hoạt động chết nhanh khi ra khỏi cơ thể quá 2 giờ. Khi bào nang đến ruột non, pH trung tính hay kiềm nhẹ làm tiêu vách bào nang và nhân phân chia. Sau đó tế bào chất phân chia, tạo tám thể minuta.

Khi môi trường sống trong ruột già trở nên bất lợi, ví dụ : phân mất nước… thể minuta co tròn lại và bất động, tạo nên tiền bào nang. Tiền bào nang tự tạo ra vách và trở thành bào nang. Bào nang theo phân ra ngoài. Khi tồn tại ở ngoại cảnh, bào nang một nhân tiếp tục phát triển thành bào nang hai nhân rồi thành bào nang bố nhân. Chính bào nang bốn nhân là giai đoạn lây nhiễm.

Trường hợp trong ruột già, phân trở nên cô đặc, mất nhiều nước, lúc đó bào nang một nhân cũng phát triển nhanh thành hai nhân, bốn nhân và sau đó theo phân ra ngoài.

Khi gặp nhiều thuận lợi, như sức đề kháng cơ thể ký chủ giảm, nhiễm trùng… thể minuta sẽ chuyển sang dạng gây bệnh – thể hoạt động ăn hồng cầu.

Chu trình sinh bệnh.

Thể hoạt động ăn hồng cầu có nhiều men (trypsine, pepsine, hyaluronidase…) gây hoạt tử, xuất huyết…, chúng xâm nhập vách ruột già, sinh sản bằng cách phân đôi. Từ vách ruột, amíp có thể đi theo đường máu đến cơ quan khác (gan, phổi, não…) và tiếp tục sinh sản gây bệnh.

BỆNH AMIP CÓ NGUY HIỂM KHÔNG?

Chu kỳ phát triển bệnh amip


3. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỂ BỆNH AMIP

Nhiễm amip phổ biến ở khắp nơi, nhất là ở các nước nhiệt đới.

Người bị nhiễm amip vì nuốt phải bào nang trong thức ăn, nước uống.

Nhờ có vách dày, bào nang đề kháng vào với ngoại cảnh. Bào nang có thể tồn tại trong đất 8 ngày ở nhiệt độ 28 – 34◦C, 40 ngày ở 2 – 6 ◦C. bào nang bị hủy khi đun sôi hoặc tiếp xúc với acid acetic 5% - 10%.

Người là tàng chủ của E. histolytica, nhất là những người lành mang amip là không có biểu hiện lâm sàng.

Bào nang có thể sống lâu ở môi trường bên ngoài nên môi trường bên ngoài cũng là tàng chủ của ký sinh trùng này.

Những nguồn lây bệnh chủ yếu là :

  • Nước bị ô nhiễm phân người.
  • Rau tươi có phân người nhiễm.
  • Ruồi, gián giúp vận chuyển mầm bệnh từ phân sang thức ăn.

Hiện nay, bệnh còn lây qua quan hệ tình dục ở những người đồng tính nam.

4. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH AMIP

Amip đường ruột.

Lỵ amip

Lâm sàng.

Thời gian ủ bệnh tương đối dài (1-4 tuần), bệnh nhân có thể tiêu chảy và đau bụng, sau đó xuất hiện hội chứng ly:

  • Đau bụng dữ dội, đau dọc theo khung đại tràng do amip ký sinh ở vị trí đại tràng thường ở manh tràng.
  • Đi cầu phân nhày nhớt và máu (< 10 lần/ngày) vì amip xâm nhập vào màng ruột. bình thường trên màng ruột có các tế bào trụ tiết chất nhầy có tác dụng bảo vệ niêm mạc ruột nhưng khi amip xâm nhập, amip tiết ra các men tiêu hủy tế bào và xâm lấn vô các lớp sâu hơn của màng ruột như lớp cơ niêm, mạch máu… gây hoại tử, xuất huyết. trên lâm sàng bệnh nhân đi tiêu phân nhầy và máu.
  • Cảm giác mót rặn do amip di chuyển và gây tổn thương dọc theo đại tràng, kích thích co thắt cơ vòng hậu môn, tạo cảm giác muốn đi tiêu nhưng không đi được.

Bệnh nhân thường không sốt. bệnh có thể kéo dài nên dẫn đến tình trạng sụt cân, kiệt sức. Ở những bệnh nhân nặng, bệnh có thể khởi phát đột ngột với sốt, tiêu chảy ồ ạt (> 10 lần/ngày), mất nước, rối loạn điện giải.

Khám vùng manh tràng hay đại tràng sigma thấy đau và có thể kháng nhẹ.

Soi trực tràng rất đau và có thể thấy vết loét hình dấu ấn ngón tay, trên mặt phù một lớp nhầy lẫn máu.

Triệu chứng và dấu chứng

%

Bệnh sử > 1 tuần

Hầu hết

Khởi phát từ từ

Hầu hết

Tiêu chảy

94 – 100

Lỵ

94-100

Đau bụng

12-80

Sụt cân

44

Sốt > 38◦C

10

Diễn tiến

Nếu điều trị kịp thời và đúng cách, bệnh nhân khỏi bệnh và không để lại di chứng. Nhưng nếu không trị, sẽ có những biến chứng tại chỗ hay xa hơn.

BỆNH AMIP CÓ NGUY HIỂM KHÔNG?

Trường hợp hiếm gặp là amip có thể qua mũi và chui vào não gây bệnh amip ăn não

Chẩn đoán

  • Quan sát trực tiếp: Lấy phân tại chỗ nhầy nhớt, máu và quan sát ngay trong vòng 2 giờ sau khi bệnh nhân đi tiêu xong để tìm thể hoạt động ăn hồng cầu Entamoeba histolytica. Nếu chưa có điều kiện xét nghiệm phân trong vòng 2 giờ, nên cho mẫu phân đó vào lọ có chứa dung dịch cố định. Nếu xét nghiệm một mẫu phân thì tỉ lệ dương tính chỉ chiếm 1/3 – ½ trường hợp. vì vậy nên xét nghiệm trên ba mẫu phân trong tất cả trường hợp.
  • Tìm kháng nguyên amip trong phân bằng phương pháp kháng thể đơn dòng (thể Techlab E, histolytica II test).
  • Kỹ thuật PCR: Phát hiện DNA của E, histolytica.

Biến chứng ở ruột

* Xuất huyết tiêu hóa do thủng ruột.

* Hội chứng tắc ruột một phần hay toàn phần do sẹo dính hẹp trực tràng.

* Bướu amip: Bưới ruột già thường lành tính, thường ở vùng manh tràng hay đại tràng sigma, lâm sàng và X-quang dễ nhầm với ung thư ruột già.

* Viêm ruột mạn tính : Đau bụng liên tục hoặc từng cơn, táo bón xen kẽ tiêu chảy.

Amip nội tạng (amip ngoài đường ruột).

Amip có thể theo đường máu đến nhiều cơ quan khác nhau như gan, phổi, não…, thường gặp nhất là gan (thùy trên phải).

Áp – xe gan.

Lâm sàng.

Bệnh khởi phát từ từ hoặc đột ngột với triệu chứng thường gặp là đau bụng trên phải và sốt 38◦C - 39◦C. Các triệu chứng khác nhau như mệt mỏi, sụt cân, ho, hay vàng da ít gặp hơn. Khám thấy gan to, mềm tuy nhiên chứng năng gan có thể bình thường hoặc bất thường nhẹ.

Triệu chứng và dấu chứng

%

Bệnh sử > 4 tuần

21 – 51

Sốt

85 – 90

Đau bụng trên phải

84 – 90

Gan to

30 – 50

Vàng da

6 – 10

Tiêu chảy

20 – 33

Sụt cân

33 – 55

Ho

10 – 30

Nam/nữ

9:1

Chẩn đoán

  • Hình ảnh học:
  • X-quang bụng : Có thể thấy tràn dịch mạng phổi phải.
  • Siêu âm bụng : Thấy hình ảnh ổ áp-xe.
  • CT – scan bụng.
  • Chọc hút : Từ áp-xe một loại mủ màu chocolate, chứa tế bào gan thoái hóa, bạch cầu đa nhân, tinh thể Charcot Leyden, thường không thấy amip (amip ăn hồng cầu nằm trong thành áp-xe).
  • Xét nghiệm phân : Không có giá trị
  • Xét nghiêm miễn dịch : Tìm kháng thể trong máu (ELISA).
  • Kỹ thuật PCR: Phát hiện DNA của E.histolytica trong mẫu phân hoạch dịch hút ổ áp-xe.

Amip phổi – màng phổi.

Thường đi sau áp – xe gan do ổ áp – xe vỡ qua cơ thành. Tuy nhiên cũng có thể thứ phát sau nhiễm amip đường ruột. đôi khi bệnh nhân ói ra mủ màu chocolate.

Nơi khác

Amip có thể gây bệnh ở những nơi khác như lách, não, xuông, loét ở rìa hậu môn, da đầu dương vật, âm đạo…

5. ĐIỀU TRỊ BỆNH AMIP

Người lành mang mầm bệnh: Iodoquinol hoặc Paramomycin

Amip đường ruột và nội tạng : Metronidazole

Theo dõi diễn biến lâm sàng, hình ảnh siêu âm, CT-scan.

6. DỰ PHÒNG BỆNH AMIP

Cho cá nhân

Vệ sinh cá nhân: rửa tay sạch trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, uống nước đun sôi, rửa rau kỹ, sạch trước khi ăn…

Cho cộng đồng

* Phát hiện và điều trị người mang bào nang.

* Giải quyết các vấn đề môi trường: Xây dựng hố xí hợp lý, không đi tiêu bừa bãi, thanh lọc nước uống, diệt ruồi, gián và không xả rác bừa bãi ra ngoại cảnh.

* Giáo dục sức khỏe cho cộng đồng.

BS. Nguyễn Ngọc Ánh (St)

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KST SÀI GÒN
CHUYÊN GIA VỀ NGỨA VÀ GIUN SÁN
Địa chỉ: 402 An Dương Vương, P.4, Q.5, TP. HCM
ĐT. 028 38 30 23 45 - Lịch khám bệnh - Xem bản đồ
BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS.NGA
0912.444.663
.
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN