BỆNH NẤM PENICILLIUM CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

trangchu:h2;top:h3;bottom:h3;trai:h3;phai:h3;TrangDanhMuc:h2;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

BỆNH NẤM PENICILLIUM

benhgiunsan.com Đây là một vi nấm nhị độ, ký sinh nội tế bào, tấn công vào hệ lưới nội mô của người miễn dịch bình thường cũng như người suy giảm miễn dịch. Hiện nay, Penicillium marneffei trở thành tác nhân nhiễm trùng cơ hội quan trọng thứ ba, sau lao và Cryptococcus neoformans, trên bệnh nhân AIDS, ở khu vực Đông Nam Á.

1. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ

Bệnh phổ biến ở Trung Quốc, Thái Lan, Hồng Kông, Ấn Độ, Mã Lai, Indonesia, Lào, Campuchia, Việt Nam… Tỉnh Chiangmai (Thái Lan) và Guangxi (Trung Quốc) là những vùng dịch tễ quan trọng. Nhiều trường hợp được báo cáo từ các nước Âu Mỹ nhưng các bệnh nhân này đều có tiền sử lưu trú trong khu vực Đông Nam Á.

P.marneffei được Segretain phân lập lần đầu tiên năm 1956 ở Đà Lạt từ tổn thương gan của con chuột tre Rhizomys sinensis, loài chuột hiện diện ở nhiều nước Đông Nam Á. Sau đó, năm 1959, tác giả xác định khả năng gây bệnh của vi nấm khi ông vô ý tiêm chủng P.marneffei vào ngón tay.

Nhiều khảo sát tiếp theo chứng tỏ P.marneffei tồn tại trong cơ quan nội tạng, nhất là phổi và gan, của hầu hết các loài chuột tre Rhizomys spp. và Cannomys sp. mặc dù chúng không có biểu hiện bệnh lý. Ngoài ra, vi nấm còn được phân lập từ phân chuột, từ đất ở trong hoặc xung quanh nơi chuột sinh sống, qua lại. Tuy nhiên, nôi sinh tháiủa P.marneffei còn nhiều bàn cãi.

Người bị nhiễm có lẽ do hít bào tử nấm từ không khí. Sau khi vào phổi, nếu không bị các đại thực bào tiêu diệt, chúng sẽ vào máu và phát tán đến các cơ quan khác. Vi nấm xâm nhập qua da trầy xước ở những người làm việc tiếp xúc với đất cũng được nhiều tác giả gợi ý; trong khi sự phơi nhiễm với chuột tre hoặc ăn thịt loài gặm nhấm này vẫn chưa được công nhận là yếu tố nguy cơ.

Nói chung, cho đến bây giờ, phương thức lây nhiễm chính xác của bệnh P.marneffei chưa được xác định.

P.marneffei có khả năng gây bệnh cho người bình thường (20%), đặc biệt người sống trong vùn dịch tễ, cũng như người bị suy giảm miễn dịch (80%). Các đối tượng có nguy cơ cao đối với nhiễm P.marneffei bao gồm những người bị AIDS, Hodgkin, điều trị crticoid dài ngày, ung thư, tiểu đường… Vi khuẩn lao,Cryptococcus neoformans và P.marneffei, là ba tác nhân nhiễmcơ hội hàng đầu ở người HIV(+), vì thế nên quan tâm phát hiện bệnh vi nấm P.marneffei trên bệnh nhân AIDS có sốt kéo dài. Ở bệnh nhân AIDS, vi nấm thường tấn công khi số lượng CD4< 50/mm3 máu.

2. TRIỆU CHỨNG BỆNH

P.marneffei được cho là xâm nhập vào cơ thể người qua đường hô hấp, gây nhiễm trùng nguyên phát ở phổi, sau đó phát tán theo đường máu đến các tổ chức tế bào võng nội mô khác, thường là hạch bạch huyết, da, gan, lách, ruột, tủy xương…

Ở người miễn dịch bình thường, bệnh có thể khu trú hoặc phát tán, đôi khi nhiễm không có biểu hiện lâm sàng. Các thể bệnh khu trú viêm phế quản phổi, viêm phổi có hoặc không có hạch, viêm hạch cổ mãn tính giả lao… Sự phá hủy mô liên quan đến phản ứng viêm hình thành các u hạt chứa tế bào khổng lồ đa nhân, lymphocytes và bạch cầu đa nhân trung tính, hoặc là phản uứng viêm mủ tạo thành các ổ áp-xe.

Đối với người suy giảm miễn dịch, bệnh đã phát tán toàn thân ngay khi các triệu chứng được thể hiện và thường là kết quả của phản ứng hoại tử, thâm nhiễm lan tỏa của các đại thực bào chứa đầy vnnhiễm lan tỏa của các đại thực bào chứa đầy vi nấm. Hình ảnh lâm sàng gồm có sốt, mất cân, thiếu máu kèm theo biểu hiện của các cơ quan bị tổn thương như nổi hạch toàn thân, sang thương da, gan, lách to, viêm phổi, viêm ruột, viêm khớp nhiễm trùng, viêm xương hủy xương…

Các biểu hiện này, nói chung không đặc hiệu cho nhiễm trùng P.marneffei ngọai trừ sang thương da, tương đối có giá trị gợi ý đến bệnh. Tổn thương ở da rất đa dạng, có thể là những sẩn, sẩn hoại tử trung tâm, mụn mủ dạng trứng cá, hồng ban… thường xuất hiện ở nữa trên cơ thể (mặt, thân, tay), ít gặp ở chân.

Các đặc điểm của tổn thương da tương tự như trường hợp nhiễm vi nấm Cryptococcus neoformans, Hisó thể là những sẩn, sẩn hoại tử trung tâm, mụn mủ dạng trứng cá, hồng ban… thường xuất hiện ở nữa trên cơ thể (mặt, thân, tay), ít gặp ở chân.

Các đặc điểm của tổn thương da tương tự như trường hợp nhiễm vi nấm Cryptococcus neoformans, Histoplasma spp., và virus Molluscum contagiosumplasma spp., và virus Molluscum contagiosum ở da, vì vậy cần chẩn đoán phân biệt với các tác nhân này.

Tần suất của các biểu hiện lâm sàng thường gặp trên n bệnh nhân AIDS như sau :

Biểu hiện lâm sàng

Tần suất

Sốt

99%

Thiếu máu

78%

Sụt cân

76%

Sang thương da

71%

Nổi hạch toàn thân

58%

Gan to

51%

Các biểu hiện ở phổi

49%

Tiêu chảy

31%

Lách to

16%

Sang thương ở niêm mạc miệng

4%

3. CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán vi nấm học

Quan sát trực tiếp phết nhuộm bệnh phẩm có thể thất hình ảnh ký sinh nội tế bào của vi nấm nhưng đôi khi khó phân biệt P.marneffei với các tác nhân khác cũng ký sinh trong tế bào võng nội mô như Histoplasma spp. Do đó, cần phối hợp với phương pháp cấy để định danh vi nấm

Bệnh phẩm có thể là sang thương da, mủ, hạch bạch huyết, tủy xương, máu,

Quan sát trực tiếp

Phết ướt bệnh phẩm không có giá trị đối với chẩn đoán nhiễm P.marneffei. Trên phết ấn hoặc phết trải bệnh phẩm nhuộm Giemsa, nhuộm Wright sẽ quan sát thấy tế bào xuất hiện dưới dạng tế bào hạt men tròn, bầu dục hoặc kéo dài thành hình xúc xích, kích thước 2 – 3 µm x 2 – 8 µm. Các tế bào này không sinh sản bằng cách nảy búp mà chúng phân đôi bằng một vách ngăn giữa tế bào.

Trên tiêu bản mô nhuộm HE, PAS, GMS, vi nấm nằm rải rác trong vùng mô bị viêm mạn. Theo Wong K.F và công sự, chọc dò tủy xương là phương pháp hữu ích để chẩn đoán bệnh vi nấm P.marneffei, hình ảnh vi thể khi quan sát trực tiếp đủ để phân biệt với Histoplasma capsulatum và Toxoplasma gondii: vách ngăn và tế bào dạng xúc xích là đặc trưng của P.marneffei, , khác với tế bào hạt men nảy búp, cuống hẹp của Histoplas hẹp của Histoplasma capsulatum, và tế bào không có vách ngăn cũng không nảy búp của Toxoplasma gondii.

Cấy

Tủy xương là loại bệnh phẩm tốt nhất cho chẩn đoán P.marneffei bằng quan sát trực tiếp cũng nhu phương pháp cấy. Theo đánh giá của Supparatpinyo K. và cộng sự, cấy tủy xương có độ nhạy 100%, cấy mô sinh thiết 90% và cấy máu 76%.

Thật vậy, Wong SS & cộngg sự đã chứng tỏ nhiễm nấm máu ở bệnh nhân AIDS cũng chỉ 50% và chỉ 28,6% số bệnh nhân không nhiễm HIV phân lập được P.marneffei từ máu.

Bệnh phẩm được cấy lên hai canh cấy Sabouraud dextrose agar có khángg sinh, ủ ở 250C va2 370C để thể hiện đặc điểm nhị độ của P.marneffei. Ở 250C, P.marneffei mọc nhanh thành khúm màu xám lục hay xanh lục, nổi cục, bề mặt phủ lông tơ mịn như nỉ. Vi nấm sinh sắc tố màu đỏ nâu hoặc đỏ rượu vàng rất sớm và khuếch tán nhanh chóng trong thạch.

Quan sát vi thể một mẫu nhỏ của khúm sẽ thấy những sợi nấm mảnh, trong suốt, có vách ngăn. Từ sợi tơ nấm mọc lên bào đài có vách ngăn, bề mặt nhẵn, tận cùng bằngg 3 – 5 nhánh (metulae) 3 – 5 nhánh (metulae) mọc vòng, mỗi nhánh bào đài mang 3 – 7 tiểu bào đài hịnh lục mọc vòng, mỗi nhánh bào đài mang 3 – 7 tiểu bào đài hịnh lục bình (phialides), kích thước 9 – 11 µm x 2,5 µm. Mỗi tiểu bào đài mang một chuỗi bào tử đính hình cầu hoặc hơi kéo dài, vách nhẵn, đường kính 2 – 3 µm.

Ở 370C, P.marneffei phát triển thành khúm dạng nấm men, bề mặt hơi ướt, xếp phát triển thành khúm dạng nấm men, bề mặt hơi ướt, xếp nếp, màu vàng nâu. Quan sát vi thể cho thấy các bào tử hình cầu hoặc ellip, đường kính 2 – 6 µm, sinh sản bằng cách tách đôi từ một vách ngăn ở giữa. Ngoài ra, còn có nhiều sợi tơ nấm ngắn đangg chuyển dạng từ hạt men sang dạng sợi.

Chẩn đoán miễn dịch

Bên cạnh các phương pháp xét nghiệm trực tiếp bệnh phẩm, nhiều kỹ thuật chẩn đoán miện dịch cũng được áp dụng trong chẩn đoán P.marneffei như phản ứng ELISA, phản ứng ngưng kết hạn latex.

4. ĐIỀU TRỊ

Đối với bệnh nhân suy giảm miễn dịch, đặc biệt bệnh nhân AIDS, tử vong do nhiễm P.marneffei là chắc chắn nếu không điều trị và khả năng tái phát cũngg rất cao, cần điều trị sau khi khỏi bệnh.

Khởi đầu bằng amphotericin B 0,6 mg/này x 2 tuần, tiếp theo với intraconazole 200 mg x 2 lần/ngày x 10 tuần sau đó duy trì ở liều 200 mg/ngày

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KST SÀI GÒN
CHUYÊN GIA VỀ NGỨA VÀ GIUN SÁN
Địa chỉ: 402 An Dương Vương, P.4, Q.5, TP. HCM
ĐT. 028 38 30 23 45 - Lịch khám bệnh - Xem bản đồ

TIN LIÊN QUAN

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

Tìm Kiếm

Từ khóa:

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
.
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS. ÁNH
0912171177
Hoặc Tổng đài: 0281080
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

Thong ke hom nay Hôm nay 1355
Thong ke hom qua Hôm qua 4459
Thong ke tuan nay Tuần này 10126
Thong ke tuan truoc Tuần trước 28486
Thong ke thang nay Tháng này 100372
Thong ke thang truoc Tháng trước 128229
Thong ke toan bo Toàn bộ 4082750

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN