BỆNH TRÙNG LÔNG BALANTIDIUM COLI CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

trangchu:h2;top:h3;bottom:h3;trai:h3;phai:h3;TrangDanhMuc:h2;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

BỆNH TRÙNG LÔNG BALANTIDIUM COLI

Balantidium coli là một đơn vị bào thuộc lớp trùng lông (Ciliata), ký sinh trong ruột già, được phân lập chủ yếu từ heo, người chỉ là ký chủ tình cờ, vì vậy bệnh do tác nhân này được xếp vào nhóm bệnh động vật ký sinh. Ngoài ra, trên cơ địa suy giảm miễn dịch, bệnh thường diễn tiến trầm trọng với tỉ lệ tử vong cao nên B. coli cũng là một tác nhân gây nhiễm trùng cơ hội.

1. HÌNH THỂ BỆNH TRÙNG LÔNG BALANTIDIUM COLI

B.Coli có kích thước lớn nhất trong các đơn vị bào ký sinh đường ruột, gồm thể hoạt động và thể bào nang.

Thể hoạt động


Hình trứng, kích thước rất thay đổi, khoảng (30-150µm) x (25-120µm). Toàn thân được bao phủ bởi nhiều hàng lông tơ, xếp theo chiều dọc, giúp trùng lông di chuyển. Đầu trước thon, có một bào khẩu (cytostome) hình phễu, đầu sau tròn chứa một lỗ bài tiết (cytopyge) hình tam giác. B.coli có hai nhân: nhân lớn hình hạt đậu và một nhân nhỏ tròn, nằm ở mặt lõm của nhân lớn. Trong bào tương có hai không bào co thắt, một ở giữa, một ở gần cực sau, và nhiều không bào thức ăn.

Thể bào nang

Hình tròn hoặc hình trứng, đường kính 40 - 65µm, được bao bọc bởi hai lớp vỏ, lớp vỏ ngoài dày, chắc, giúp bào nang đề kháng tốt với môi trường. Khi mới hóa nang, các hàng lông tơ vẫn tồn tại nhưng sau đó thoát hóa dần. các cấu trúc như bào khẩu, lỗ bài tiết, không bào thức ăn cũng biến mất, chỉ còn nhân và không bào co thắt.

2. CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN BỆNH TRÙNG LÔNG BALANTIDIUM COLI

Người bị nhiễm do nuốt bào nang qua nước uống, thức ăn, tay dơ. Đến dạ dày, vỏ bào nang bị phá vỡ, thể hoạt động được phóng thích, sống cộng sinh trong lòng ruột hoặc xâm lấn vào niêm mặc ruột bằng cách tiết men hyaluronidase và một số men tiêu hủy protein khác. B.coli tồn tại chủ yếu ở manh tràng, đại tràng, đại tràng sigma, hiếm khi ở hồi tràng. Chúng tăng sinh bằng cz1ch phân chia nhân và bào tương, tuy nhiên, kiểu sinh sản hữu tính có thể xảy ra trong nuôi cấy. Chất dinh dưỡng của chúng bao gồm mô và các chất trong ruột như hồng cầu, bạch cầu, vi khuẩn, vi nấm, trứng giun sán, các loại đơn bào, hạt tinh bột, chất nhầy, kể cả đồng loại. Khi gặp điều kiện bất lợi như tình trạng thiếu nước ợ trực tràng hoặc khi rời khỏi cơ thể ký chủ, thể hoạt động sẽ hóa bào nang.

Thể hoạt động phát triển được trong điều kiện kỵ khí hoặc hiếu khí nhưng nhạy cảm cao với pH<5 và chỉ sống được vài giờ ở ngoại cảnh. Với nhiệt độ 22◦C trong môi trường ẩm ướt, thời gian tồn tại chỉ có thể kéo dài vài tuần đối với thể bào nang và 10 ngày đối với thể hoạt động. Do đó, thể hoạt động có thể trở thành thể lây lan nếu gặp cơ địa có nồng độ acid kém trong dạ dày.

3. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỂ BỆNH TRÙNG LÔNG BALANTIDIUM COLI

Heo là tàng chủ chính của B.coli. Ngoài ra, chuột và một số loài động vật hữu nhũ khác cũng là ký chủ của đơn bào này. Các nguồn chứa thiên nhiên bào gồm nước, đất, rau bị ô nhiễm phân heo hoặc phân người. Vì vậy, thói quen uống nước không nấu chín, ăn rau sống không rửa kỹ, không rửa tay trước khi ăn là những hành vi nguy cơ của sự nhiễm bệnh. Ruồi, gián cũng được xem là trung gian truyền bệnh cơ học đối với B.coli.

Bệnh phổ biến khắp nơi trên thế giới với tỷ lệ nhiễm ước tính khoảng 0,02% - 1%, thay đổi rất nhiều tùy theo vùng do phụ thuộc vào các yếu tố sau đây: i) sự tiếp xúc với heo’; ii) xử lý phân không hợp lý dẫn đến phát tán mầm bệnh vào môi trường; iiii) khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới thích hợp cho bào nang tồn tại dai dẳng trong tự nhiên; iv) vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm. Tại những khu vực chăn nuôi hei, khoảng 25% - 29% mẫu xét nghiệm phân người dương tính như ở Philippine, Châu Mỹ La tinh, New Guinea, Bolivia, một số nước thuộc Trung Đông.

Tại Việt Nam, một số tác giả ghi nhận tỷ lệ nhiễm B.coli trên người trước năm 2000 là 0,12%, nhưng hiện nay, con số này vẫn chưa được cập nhật.

4. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG BỆNH TRÙNG LÔNG BALANTIDIUM COLI

Mặc dù tỷ lệ nhiễm B.coli cao ở heo, 60% - 100%, nhưng bệnh hiếm gặp ở người. Ngoài ra, hơn 50% trường hợp nhiễm không có biểu hiện lâm sàng, nhất là ở những người thường xuyên tiếp xúc với heo, và bệnh thường diễn biến nặng trên cơ dịa suy giảm miễn dịch với tỷ lệ tử vong cao, khoảng 30%. Do đó, nhiều khả năng tồn tại một cơ chế miễn dịch tự nhiên ở người và hoạt động miễn dịch liên quan đến mức độ nặng của bệnh. Hệ vi sinh trong đường tiêu hóa cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của B.coli. Sau khi thoát nang, thể hoạt động cần một thời gian để thích nghi với quần thể vi khuẩn trong ruột. Độc lực của B.coli và các yếu tố khác như chế độ ăn giàu carbohydrate, có bệnh mạn tính đi kèm, nghiện bia rượu, tình trạng nhiễm trùng, ký sinh trùng trong đường tiêu hóa cũng tác động đến khả năng gây bệnh của loại trùng roi này.

Đối với những trường hợp có biểu hiện lâm sàng, bệnh có thể diễn tiến mạn tính, cấp tính hoặcác tính, trong đó, thể mạn tính chiếm đa số với những đột tiêu chảy phân nhày, không có mủ hoặc máu, khoảng 3 – 15 lần/ngày, sau đó bệnh tự giới hạn, bước vào thời kỳ im lạng từ vài ngày đến vài tháng.

Thể cấp tính được đặc trưng bởi các dấu hiệu: buồn non, nôn, chán ăn, đau bụng, tiêu phân lỏng, nhày, máu, đôi khi có mủ, dẫn đến mất nước, sụt cân,. Những ổ loét nông, tổn thương giả mạc được phát hiện khi soi trực trạng.

Trên bệnh nhân giảm sức đề kháng, bệnh bộc phát thình lình, có thể tiêu chảy liên tục mỗi 20 phút, phân nhày, mủ, xuất huyết dẫn đến tử vong sau 3 – 5 ngày trong tình trạng mất nước, mất máu hoặc thủng ruột. Soi trực tràng sẽ thấy những ổ loét sâu. Đôi khi quan sát dc thể hoạt động trong mạch máu hoặc mạch bạch huyết trên tiêu bản mô sinh thiết.

Các trường hợp nhiễm ngoài ruột có thể xảy ra, chủ yếu khi hệ miễn dịch suy yếu. B.coli từ đại tràng di chuyển theo đường máu, đường bạch huyết đến phổi, hoặc vào xoang phúc mạc khi thủng ruột và xâm nhập gan hoặc xuyên qua cơ hoành lên phổi. Viêm âm đạo, viêm bàng quang do B.coli lan trực tiếp từ vùng hậu môn hoặc qua đường dò trực tràng – âm đạo.

5. CHẨN ĐOÁN BỆNH TRÙNG LÔNG BALANTIDIUM COLI

Chẩn đoán xác định dựa vào xét nghiệm phân tìm thể hoạt động và thể bào nang. Tuy nhiên, do dc hình thành trong điều kiện thiếu nước nên bào nang hiếm khi co trong phân lỏng, thường chỉ hiện diện trong phân chặt. khả năng phát hiện B.coli sẽ tăng cao nếu thực hiện các phương pháp tập trung cũng lặp lại xét nghiệm nhiều lần vì ký sinh trùng không dc thải liên tục trong phân. Quan sát mẫu bệnh phẩm nạo từ niêm mạc đại tràng hoặc mẫu mô sinh thiết sau khi nhuộm mô học cũng giúp chẩn đoán bệnh.

6. ĐIỀU TRỊ BỆNH TRÙNG LÔNG BALANTIDIUM COLI

Nguyên tắc điều trị : Diệt mầm bệnh và diều trị hỗ trợ.

Điều trị đặc hiệu với các lựa chọn sau đây:

  • Metronidazole (uống):
  • Tetracycline (uống) :
  • Indoquinol (uống) :

7. DỰ PHÒNG ĐIỀU TRỊ BỆNH TRÙNG LÔNG BALANTIDIUM COLI

  • Vệ sinh cá nhân : Rửa tay kỹ trước khi ăn, sau khi đi tiêu và sau khi làm việc tiếp xúc với heo, phân heo.
  • Vệ sinh thực phẩm : ăn chín, uống chín, ăn rau sống phải rửa kỹ, tránh ruồi gián đậu vào thứ c ăn.
  • Xử lý phân : sử dụng hố xí hợp vệ sinh, không bón hoa màu bằng phân tươi.

BS. Nguyễn Ngọc Ánh (St)

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KST SÀI GÒN
CHUYÊN GIA VỀ NGỨA VÀ GIUN SÁN
Địa chỉ: 402 An Dương Vương, P.4, Q.5, TP. HCM
ĐT. 028 38 30 23 45 - Lịch khám bệnh - Xem bản đồ

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS.NGA
0912.444.663
.
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN