BỆNH TRÙNG ROI GIARDIA LAMBLIA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

trangchu:h2;top:h3;bottom:h3;trai:h3;phai:h3;TrangDanhMuc:h2;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

BỆNH TRÙNG ROI GIARDIA LAMBLIA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

Trùng roi Giardia lamblia còn có tên gọi là Giardia intestinalis phân bố khắp nơi trên thế giới đặc biệt là vùng có khí hậu nóng ẩm, bệnh phổ biến ở trẻ em hơn người lớn. Giardia lamblia ký sinh ở ruột non người cà động vật hữu nhũ.

1. HÌNH THỂ BỆNH TRÙNG ROI GIARDIA LAMBLIA

Thể hoạt động

Là thể gây bệnh, chết nhanh khi rời khỏi cơ thể ký chủ.

Hình quả lê, kích thước 5 – 15 x 10 - 20µm, mặt bụng phẳng, mặt lưng gù, phía trước mặt bụng có bộ phận bám gọi là đĩa hút. Có bốn cặp lông roi, hai nhân co nhân thể ở phía đầu, gần trục sống thân có thể cận trục.

Bào nang

Là thể lây lan, tồn tại lâu ở ngoại cảnh nhờ có vách dày.

BỆNH TRÙNG ROI GIARDIA LAMBLIA CÓ NGUY HIỂM KHÔNGBỆNH TRÙNG ROI GIARDIA LAMBLIA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG
Thể hoạt động trùng roi Giardia-lamblia Thể bào nang trùng roi Giardia-lamblia


Hình tròn hoặc hình bầu dục rất chiết quang, kích thước 7-10 x11-14µm, bào nang có 2 – 4 nhân với trục sống thân. Thường một số bào nang co lại, méo mó, tế bào chất không đầy lòng bào nang.

2. CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN BỆNH TRÙNG ROI GIARDIA LAMBLIA

Thể hoạt đồng bám rất chắc trên bề mặt màng nhày tá tráng và đoạn đầu hỗng tràng bằng đĩa hút bụng. Thể hoạt động phân chia theo chiều dọc tạo thành hai cá thể mới. khi thể hoạt động di chuyển xuống ruột già, lông roi sẽ co vào sợi trục, bào tương đặc lại, vách trở nên dày, chuyển dần sang thể bào nang. Cùng với thể bào nang, thể hoạt động cũng theo phân ra ngoài nhưng chết nhanh ở ngoại cảnh. Người nhiễm là do nuốt phải bào nang trong thực phẩm, nước uống hoặc tay bẩn có chứa bào nang của Giardia lamblia. Bào nang sẽ biến thành thể hoạt động ở tá tràng.

BỆNH TRÙNG ROI GIARDIA LAMBLIA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

Chu kỳ phát triển của trùng roi Giardia-lamblia

3. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH TRÙNG ROI GIARDIA LAMBLIA

Giardia lamblia có mặt khắp nơi trên thế giới đặc biệt là vùng nhiệt đới và các nước đang phát triển. Tỷ lệ nhiễm từ 2% - 15% tùy theo từng vùng. Động vật hoang dã cũng như gia súc có thể là ổ chứa mầm bệnh.

Trẻ em nhiễm nhiều hơn người lớn. Tỷ lệ nhiễm ở trẻ em dưới 10 tuổi từ 10% - 20% và 60% trẻ em bị nhiễm ít nhất một lần trong suốt thời kỳ niên thiếu. Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm Giardia lamblia từ 3% - 5%, chủ yếu là dạng bào nang.

Bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa do nuốt phải bào nang trong thực phẩm, nước uống hoặc tiếp xúc thân mật với người nhiễm.

Nước là nguồn lây nhiễm thường gặp nhất, chủ yếu do nguồn nước không hợp vệ sinh, uống nước không đun sôi, đặc biệt là các quốc gia xử lý nước sông, hồ làm nước sinh hoạt, bào nang Giardia lamblia đề kháng với các phương pháp xử lý nước thông thường. Tỷ lệ nhiễm cao cũng được ghi nhận ở những công nhân nạo vét cống do tăng khả năng phơi nhiễm mầm bệnh.

Bên cạnh đó, nguồn nhiễm từ thực phẩm ngày càng trở nên phổ biến. Nhiều trận dịch đã được ghi nhận ở các nhà hàng, công sở lớn, viện dưỡng lão. Các loại thức ăn không được nấu chín như salad, thịt cá đông lạnh thường được nhắc đến. Ngoài ra sự ẩm ướt quanh năm của thùng làm lạnh, các thiết bị làm lạnh cũng là môi trường thuận lợi cho sự tồn tại của bào nang.

Sự tiếp xúc thân mật như nhà trẻ, mẫu giáo có thể làm tăng tỷ lệ phơi nhiễm ở cả trẻ em và nhân viên giữ trẻ và tỷ lệ cũng tăng ở những người đồng tính nam do quan hệ bằng đường miệng hậu môn.

Ngoài ra, bệnh thường bộc phát ở vùng vệ sinh kém hoặc ở du khách. Giardia lamblia là một trong những nguyên nhân gây tiệu chảy ở du khách do chưa có miễn dịch với mầm bệnh.

4. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG BỆNH TRÙNG ROI GIARDIA LAMBLIA

Biểu hiện lâm sàng của nhiễm Giardia lamblia rất thay đổi từ không triệu chứng đến tiêu chảy mạn tính, hội chứng kém hấp thu, suy dinh dưỡng và nặng có thể nguy hiểm đến tính mạng của bệnh nhân. Một số trường hợp Giardia lamblia ký sinh ở niêm mạc tá tràng với mật độ cao nhưng nó có thế không gây bất kỳ một triệu chứng nào.

Quá trình kém hấp thu là do một số lượng lớn ký sinh trùng bám dính vào màng nhày ruột, che phủ hầu hết bề mặt ngăn cản sự bài tiết các men tiêu hóa và hoạt động của bờ bàn chải trong đó sự thiếu hụt men disacharidase là quan trọng nhất. Sự tổn thương của tế bào niêm mạc ruột là do độc tố của Giardia lamblia dẫn đến phản ứng cytokine gây tiêu chảy. Bệnh không xâm lấn qua khởi lớp niêm mạc ruột. Người có miễn dịch mắc phải sau khi nhiễm Giardia lamblia.

Thời gian ủ bệnh từ 1-2 tuần. Biểu hiện lâm sàng khá đặc sắc với triệu chứng tiêu chảy phân nước, hôi, có bọt. Bên cạnh đó, triệu chứng có thể kèm theo nôn ói, chán ăn, khó chịu, sốt nhẹ, ớn lạnh, đau thượng vị, đầy hơi. Bệnh nhân có thể bị sụt cân, suy giáp và suy tụy thứ phát. Ở người bị thiếu hụt kháng thể phổ biến. Giardia lamblia có thể xâm nhập toàn bộ đường mật và gây nên biến chứng viêm túi mật với cơn đau quặn mật và vàng da.

Nhiều trường hợp nhiễm Giardia lamblia không được nhận biết vì nó giống như viêm ruột cấp do virus, vi trùng, lỵ, ngộ độc thực phẩm…

Ở người, 84%, những người được lây nhiễm thực nghiệm tự khỏi sau 18 ngày, số còn lại bị nhiễm mạn tính. Triệu chứng của những bệnh nhân này có tinh chu kỳ, tiêu chảy một thời gian ngắn có thể kèm với triệu chứng đầy hơi và hơi thổ có mùi trứng thối. Giữa những giai đoạn này, phân của bệnh nhân có thể bình thường hoặc bón. Giai đoạn mạn tính phải chẩn đoán phân biệt với bệnh cảnh viêm ruột và kích ứng đại tràng của Amip, Cryptosporidium parvum, Cyclospors cayetanensis, lsospora belli, S. stercoralis.

Một số các triệu chứng như khó chịu vùng bụng trên, nóng rát sau xương ức, ợ hơi phải phân biệt với loét dạ dày tá tràng, bệnh cảnh của đường mật và tụy tạng, viêm mắt với võng mạc thay đổi dạng muối tiêu.

Một vài số liệu nghiên cứu gần đây cho thấy sự thay đổi kháng nguyên bề mặt trong suốt quá trình nhiễm Giardia lamblia khiến cho nó thoát khỏi đáp ứng miễn dịch của ký chủ, đặc biệt trong trường hợp nhiễm mạn tính. Một số kháng nguyên bề mặt giúp cho nó tồn tại lâu hơn trong đường ruột.

Một tỷ lệ cao bệnh nhân nhiễm Giardia lamblia xảy ra ở bệnh nhân suy giảm miễm dịch. Tiêu chảy do Giardia lamblia là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của những bệnh nhân này.

Ở trẻ em, biểu hiện lâm sàng thường rõ hơn tuy nhiên cũng có khoảng 20% số trẻ bị nhiễm khgo6ng biểu hiện triệu chứng.

5. CHẨN ĐOÁN BỆNH TRÙNG ROI GIARDIA LAMBLIA

Dựa vào biểu hiện lâm sàng có tiêu chảy kéo dài, sụt cân và các yếu tố dịch tễ giúp định hướng chẩn đoán từ đó đưa ra xét nghiệm cụ thể để chẩn doán xác định.

Xét nghiệm phân

Tìm bào nang trong phân là tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán nhiễm Giardia lamblia. Những trường hợp phân lỏng có thể quan sát được thể hoạt động. Tuy nhiên, do thể hoạt động Giardia lamblia bám rất chắc v2o niêm mạc ruột nhờ đĩa hút bụng nên thường khó phát hiện, đôi khi xét nghiệm 5 – 6 mẫu phân liên tiếp cũng không thấy. Do đó để tăng độ nhạy người ta thường chia mẫu phân làm 3 phần: một để soi trực tiếp, một phần cố định polyvinyl alcohol và phần còn lại trong formalin 10%. Độ nhạy của xét nghiệm có thể tăng đến 90% nếu làm đủ 3 bước xét nghiệm trên.

Xét nghiệm dịch tá tràng

Do ký sinh trùng có xu hướng thải theo chu kỳ do đó nếu không tìm thấy Giardia lamblia trong phân mà vẫn nghi ngờ ta có thể hút dịch tá tràng quan sát tìm thể hoạt động.

Phát hiện kháng nguyên Giardia lamblia trong phân tươi như

ProSpecT/Giardia assay: Sử dụng phản ứng miễn dịch hấp thụ gắn men (ELISA) để phát hiện một loại glycosylated protein của lớp vỏ bào nang. Xét nghiệm này có độ nhạy từ 91% - 98% và độ đặc hiệu là 100%.

Phương pháp miễn dịch huỳnh quanh với kháng thể đơn dòng có độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao để phát hiện Giardia lamblia và Cryptosporidium trong mẫu phân.

6. ĐIỀU TRỊ BỆNH TRÙNG ROI GIARDIA LAMBLIA

Ở những bệnh nhân đã được xác định nhiễm Giardia lamblia nhưng không triệu chứng vẫn được khuyến cáo nên điều trị vì nó có thể gây giảm hấp thu, triệu chứng thường xuất hiện có chu kỳ, có thể xảy ra muộn và là nguồn gốc của một số bệnh cảnh nhiễn trùng khác.

Thuốc được lựa chọn đầu tiên

* Metronidazole: hiệu quả cao từ 80% - 95%

* Ornidazole hiệu quả tương đương Metronidazole.

* Tinidazole hiệu quả hơn Metronidazole, có thể lên đến 98% ở liều duy nhất 2g cho người lớn, 3 mg/kg đối với trẻ em và sơ sinh.

Các thuốc có thể thay thế là Albendazole, Mebendazole

Albendazole liều dùng cho người lớn là 400 mg/ngày x 5 ngày, hiệu quả lên đến 95% cao hơn Mebendazole.

Một số thuốc ít được sự dụng là nitrofuran, Paromomycin.

Metronidazole không khuyến cáo cho thai phụ mà nên thay bằng Paromomycin và chỉ sử dụng trong trường hợp thật cần thiết và vào hai quý sau của thai kỳ.

7. DỰ PHÒNG BỆNH TRÙNG ROI GIARDIA LAMBLIA

Nhiều chuyên gia đồng ý là một biện pháp đặc biệt hiệu quả đề phòng ngừa sự lây lan của mầm bệnh là việc rửa tay của trẻ em, người chăm sóc. Khăn lau tay ẩm hoặc dung dịch rửa tay nhanh không thể thay thế cho việc rửa tay dưới vòi nước chảy.

- Thực hiện ăn chín, uống chín.

- Tìm và điều trị cho người mang bào nang.

- Xây dựng hố xí vệ sinh.

- Không xả rác bừa bãi, diệt ruồi gián.

- Thanh lọc nguồn nước.

BS. Nguyễn Ngọc Ánh (St)

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KST SÀI GÒN
CHUYÊN GIA VỀ NGỨA VÀ GIUN SÁN
Địa chỉ: 402 An Dương Vương, P.4, Q.5, TP. HCM
ĐT. 028 38 30 23 45 - Lịch khám bệnh - Xem bản đồ

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS.NGA
0912.444.663
.
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN