THUỐC ĐIỀU TRỊ KÝ SINH TRÙNG SỐT RÉT HIỆU LỰC HIỆU QUẢ

trangchu:h2;top:h3;bottom:h3;trai:h3;phai:h3;TrangDanhMuc:h2;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH KÝ SINH TRÙNG SỐT RÉT

benhgiunsan.com Bệnh nhân được điều trị với một thuốc sốt rét đơn thuần hay một phối hợp các thuốc sốt rét (liều lượng [hác đồ được tính theo cân nặng của bệnh nhân) và được theo dõi về lâm sàng và ký sinh trùng trong 28 ngày hay lâu hơn (42 ngày). Trong thời gian theo dõi ne61y ký sinh trùng xuất hiện trở lại thì sẽ phân biệt tái phát với tái nhiễm bằng kỹ thuật sinh học phân tử (genotypin). Kết quả điều trị sau khi theo dõi đủ thời gian sẽ được phân loại như sau :

Điều trị thất bại sớm (Early treatment failure – ETF)

  • Có dấu hiệu nguy hiểm hay sốt rét nặng vào ngày 1, 2 hay 3 và có ký sinh trùng trong máu.
  • Số lượng ký sinh trùng của ngày 2 cao hơn ngày 0, bất kể nhiệt độ nách.
  • Còn ký sinh trùng vào ngày 3 với nhiệt độ nách > 37,5◦C.
  • Số lượng ký sinh trùng của ngày 3 ≥25% của ngày 0.

Điều trị thất bại muộn (Late treatment failure – LTF)

  • Thất bại lâm sàng muộn (Late clinical failure – LCF)
  • Có các dấu hiệu nguy hiểm hay sốt rét nặng và còn ký sinh trùng vào bất kỳ ngày nào từ ngày 4 đến ngày 28 (hay ngày 42), mà trước đó không có các tiêu chuẩn của điều trị thất bại sớm.
  • Có ký sinh trùng vào bất kỳ ngày nào từ ngày 4 đến ngày 28 và nhiệt độ nách > 37,5◦C (hay có bệnh sử sốt), mà trước đó không có các tiêu chuẩn của các điều trị thất bại sớm.
  • Thất bại ký sinh trùng muộn (Late parasitological failure – LPF): có ký sinh trùng vào bất kỳ ngày nào từ ngày 7 đến ngày 28 và nhiệt độ nách < 37,5◦C, mà trước đó không có các tiêu chuẩn của điều trị thất bại sớm hay điều trị thất bại muộn.

Đáp ứng lâm sàng và ký sinh trùng tốt (Adequate clinical and parasitological response – ACPR): Sạch ký sinh trùng vào ngày 28, bất kể nhiệt độ nách, mà trước đó không có các tiêu chuẩn của điều trị thất bại sớm, thất bại lâm sàng muộn và thất bại ký sinh trùng muộn.

Thử nghiệm in vitro (test in vitro)

Trong kỹ thuật Mark III của Tổ chức Y tế Thế giới thì một mẫu máu lấy ở đầu ngón tay (100 µl) được trộn với môi trường RPMI 1640 có thêm HEPES và bicarbonat, sau đó được nhỏ vào những “giếng” của một phiến nhựa (microplate), và ủ trong bình nến (candle jar) trong 24-30 giờ. Trong nhiều giếng này có pha thêm thuốc sốt rét muốn đánh giá với nồng độ từ thấp đến cao. Thứ nghiệm này sẽ xác định đến nồng độ nào của thuốc thì sự phát triển của ký sinh trùng từ thể nhẫn lên thể phân liệt bị ngăn chặn (bằng cách kéo lam máu, nhuộm và soi ở kính hiển vi). Kỹ thuật này có thể đánh giá cùng lúc nhiều loại thuốc sốt rét.

Ngoài ra còn có những kỹ thuật in vitro sử dụng đồng vị phóng xạ, kỹ thuật ELISA với kháng thể chống lactate dehydrogenase (LDH) hay histidin – rich protein (HPR2) của ký sinh trùng, hay kỹ thuật sử dụng những phẩm nhuộm huỳnh quang gắn vào DNA của ký sinh trùng.

Các thử nghiệm in vitro giúp theo dõi diễn biến mức độ nhạy kháng của ký sinh trùng sốt rét theo thời gian , thể hiện qua giá trị IC50, IC90 (nồng độ ức chế 50%, 90% sự phát triển của ký sinh trùng), và MIC (nồng độ ức chế tối thiểu).

Phát hiện những chỉ thị phân tử (molecular marker) có liên quan đến kháng thuốc

Hiện nay với kỹ thuật PCR, có thể phát hiện các chủng ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc mà không cần [I nuôi cấy các ký sinh trùng như trong kỹ thuật in vitro.

Như nếu muốn biết ký sinh trùng Plasmodium falciparum có kháng với pyrimethamine hay sulfadoxine hay không thì với kỹ thuật PCR sẽ tìm thêm có sự đột biến của các gen tạo ra DHFR (Pfdhfr), DHPS (Pfdhps) ở một số codon hay không.

Thí dụ nếu kháng với pyrimethamine thì codon ở vị trí 108 của gen Pfdhfr có acid amin Serine bị thay thế bởi Asparagine; hay nếu kháng sulfadoxine thì codon ở vị trí 437 của gen Pfdhps có acid amin Alanine bị thay thế bởi Glycine… Nếu muốn biết ký sinh trùng Plasmodium falciparum có kháng với chloroquine hay không thì sẽ tìm xem có sự đột biến của gen tạo ra protein chuyên chở qua màng không bào tiêu hóa của ký sinh trùng (gen Pfcrt) hay không. Nếu codon ở vị trí 76 của gen này có Lysine bị thay thế bởi Threonine, thì ký sinh trùng sẽ kháng với chloroquine.

TIN LIÊN QUAN

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

Tìm Kiếm

Từ khóa:

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
.
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS. ÁNH
0912171177
Hoặc Tổng đài: 0281080
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

Thong ke hom nay Hôm nay 2341
Thong ke hom qua Hôm qua 2633
Thong ke tuan nay Tuần này 7982
Thong ke tuan truoc Tuần trước 20464
Thong ke thang nay Tháng này 34053
Thong ke thang truoc Tháng trước 97840
Thong ke toan bo Toàn bộ 4243913

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN