VIÊM GIÁC MẠC DO VI NẤM

trangchu:h2;top:h3;bottom:h3;trai:h3;phai:h3;TrangDanhMuc:h2;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

(MYCOTIC KERATITIS, KERATOMYCOSIS)

benhgiunsan.com Viêm giác mạc được xem là một bệnh cơ hội. Bệnh được Leber mô tả lần đầu tiên năm 1879 trên một nông dân bị mủ tiền phòng do viêm giác mạc sau khi bị mảnh vỏ trấu bay vào mắt làm trầy giác mạc và tác nhân gây bệnh được xác định là vi nấm Aspergillus glaucus. Tần suất bệnh ngày càng gia tăng do việc sử dụng rộng rãi các loại kháng sinh và corticoides.

1. DỊCH TỄ

Bệnh gặp ở khắp nơi, kkha1 phổ biến ở nước ta (25% các trường hợp loét giác mạc ở miền Bắc). Bệnh thường xảy ở những người làm nghề nông (làm ruộng, rẫy, hái trái cây…) hoặc những người phải làm việc ngoài trời như đập đá núi, thủy lợi… Người lớn, đặc biệt nam giới, chiếm đa số các trường hợp bệnh. Tần suất nhiễm thay đổi theo mùa và tùy theo vùng.

Ở miền Nam Florida, bệnh giảm vào những tháng nóng, ẩm, có mưa (tháng 6 – tháng 9); tăng vào mùa khô gió nhiều (tháng 10 – tháng 3) vì khí hậu khô sẽ giúp bào tử nấm phát tán vào không khí dễ dàng hơn và gió nhiều sẽ làm tăng nguy cơ bụi bay vào mắt.

Vùng Tây & Nam Mỹ, bệnh tăng vào mùa hè, mùa thu vì người ta đi chơi nhiều, nguy cơ dị vật vào mắt tăng do đó nguy cơ tiếp xúc với vi nấm tăng.

Bệnh thường xảy ra sau một chấn thương ở mắt làm tổn thương lớp biểu mô giác mạc từ đó vi nấm dễ xâm nhập:

Trầy xước do dị vật vào mắt như lá lúa quẹt trầy giác mạc hoặc trấu, đất cát, mảnh kim loại mảnh bom… bắn vào mắt.

Bệnh lý ở mắt như khô mắt, tviêm giác mạc do herpes (herpes simplex keratitis), bóng nước giác mạc (bullow keratopathy)…

Mang kính sát tròng (contact lens).

Các phẫu thuật ở mắt.

Sử dụng kháng sinh kháng khuẩn, corticosteroids nhỏ mắt sẽ làm phát triển các bào tử nấm thường trú ở mắt và làm giảm đáp ứng miễn dịch của ký chủ đối với sự hiện diện của bào tử nấm.

Tác nhân gây bệnh :

Hơn 60 loài vi nấm có thể gây viêm giác mạc, trong đó có những loài rất hiếm gây bệnh ở những vị trí khác. Các vi nấm thường gặp nhất là Fusarium solani, Aspergillus, Curvularia.

Candida sp., Rhizopus sp., Blastomyces dermatitidis, Sporothrix schenckii, Cryptococcus neoformans và Coccidiodes immitis thường gây viêm nội nhãn cầu (endophthlmitis) do vi nấm phát tán qua đường máu hoặc do sự lan rộng của các ổ nhiễm trùng vi nấm ở da mặt và các xoang gần gũi. Tuy nhiên, bệnh có thể xảy ra tiên phát do Blanstomyces dermatitidis và Crytococcus neoformans có nguồn gốc ngọại sinh hoặc do ghép giác mạc bị nhiễm.

Hầu hết các vi nấm gây bệnh có sẵn trong đất, cây cỏ. Chúng cũng được tìm thấy thường trú trên mắt (mi mắt, kết mạc…) người khỏe mạnh (6% - 25%). Vì thế người ta cho rằng các vi nấm thường trú xung quanh mắt là nguồn nhiễm của viêm giác mạc do vi nấm cũng như viêm nội nhãn cầu sau phẫu thuật.

2. LÂM SÀNG

Mặc dù có nhiều loại vì nấm gây bệnh nhưng biểu hiện lâm sàng như nhau.

Đa số bệnh xảy ra sau một chấn thương ở mắt khoảng 1 – 2 ngày. Bệnh nhân thấy bỏng rát, đau nhức dữ dội ở mắt, sợ ánh sáng, mắt đỏ và giảm thị lực.

Ban đầu là vết rách ở biểu mô giác mạc và màng Bowman, dần dần thành một u nhỏ màu trắng xám trên giác mạc, sau đó phần giác mạc chung quanh hóa lỏng tạo vết loét:

Bề mặt khô, hơi gồ cao.

Sang thương được giới hạn rõ, nhưng bờ vết loét có tia giống như viên bông.

Chung quanh và đáy vết loét là pxám,hần thâm nhiễm dày đặc màu trắng, hoặc vàng lạt ăn sâu đến lớp mô liên kết (stroma).

Những sang tương vệ tinh (satellite lesions hoặc “ring abscesses”) xuất hiện dần dần chung quanh vết loét trung tâm.

Mô liên kết bị phù nề.

Màng Descemet có thể bị nhăn nhúm.

Kết mạc sung huyết, đôi khi phù nề.

Tiền phòng bị ảnh hưởng sớm có thể tiến triển thành mủ tiền phòng (hypopyon) nhưng hoàn toàn vô trùn và có thể xảy ra trước khi thủng giác mạc. Những mô chung quanh nhãn cầu không bị xâm lấn nhưng mắt bị tổn thương có thể bị múc bỏ vì đau nhức. Vết loét lan nhanh hơn nếu nhỏ mắt bằng kháng sinh và corticoides.

Ở Việt Nam, hai vết loét khá đặc hiệu là :

Loét đóng mày bề mặt, dễ bóc tách thành từng mảnh.

Loét dạng áp-xe trung tâm, bao quanh bằng một vòng áp-xe, bề mặt khô bở.

Tiên lượng xấu khi vết loét quá sâu rộng và có mủ tiền phòng. Thủng giá mạc, mủ củng mạc, nhiễm trùng tiền phòng có thể xảy ra dù có điều trị. Sẹo giác mạc và giảm thị lực là di chứng thường gặp.

Chẩn đoán phân biệt

Loét do phơi giác mạc thường xuyên khi bị liệt thần kinh mắt.

Loét Mooren.

Bệnh bóng nước giác mạc sau chứng tăng nhãn áp mạn tính.

Chẩn đoán xác định.

Trên lâm sàng khó phân biệt viêm giác mạc do vi nấm với viêm giác mạc do virus, vi khuẩn hoặc Acanthamoeba. Những biểu hiện như tiền sử dị vật vào mắt dù không xác định rõ là vật gì, mủ tiền phòng xảy ra sớm, có những sang thương vệ tinh gợi ý do vi nấm, nhưng tốt nhất là dựa vào xét nghiệm tìm vi nấm trong bệnh phẩm.

Thu thập bệnh phẩm

Các chất tiết của giác mạc, ghèn… không có giá trị trong chẩn đoán vì có những chủng vi nấm thường trú ở mặt và chung quanh mắt gây dương tính giả.

Mủ tiền phòng thường là vô trùng nên không phải là bệnh phẩm tốt để cấy. Ngoài ra, việc chọc hút tiền phòng có thể gây ra những tai biến nguy hiểm.

Bệnh phẩm tốt nhất là nạo sâu ở đáy hoặ bờ vết loét vì vi nấm thường ăn sâu xuống chất nền giác mạc, không có trên bề mặt và phải do bác sĩ chuyên khoa mắt thực hiện trong điều kiện vô trùng.

Phết bệnh phẩm lên lam kính và cấy trên SDA. Khâu này nên được tiến hành ngay trong phòng tiểu phẫu mắt để tránh khô bệnh phẩm, cho kết quả chính xác và hiệu quả nhất vì đảm bảo vô trùng và không bị hao hụt bệnh phẩm do chứa trong các vật chứa. Trường hợp phải vận chuyển bệnh phẩm đến phòng xét nghiệm, cần bảo quản trong nước muối sinh lý 0,9%.

Quan sát trực tiếp

Lam kính phải sạch và vô trùng vì :

Lam dơ có thể có những sợi nấm bám vào gây dương tính giả.

Lượng bệnh phẩm nạo mỗi lần rất ít, do đó phải nạo nhiều lần. Nếu lam đã vô trùng thì không cần đốt khử trùng dao nạo sau mỗi lần phết bệnh phẩm lên lam.

Phải đánh dấu vùng phết bệnh phẩm trên lam vì lượng bệnh phẩm rất ít, khó thấy.

Làm phết ướt với KOH hoặ nhuộm tùy theo lobo nhưng nhuộm sẽ tốt hơn nếu chọn phương pháp nhuộm nhanh, có thể đọc trong cùng ngày lấy bệnh phẩm. Ví dụ : Nhuộm Gram tốt cho nấm men hoặ nhuộm Giemsa.

Quan sát dưới kính hiển vi sẽ thấy :

Loét do Candida albicans: Tế bào giác mạc có tế bào hạt men và sợi tơ nấm giả.

Loét do Aspergillus, Fusarium, Cephalosporium, Penicillium: Trên các tế bào giác mạc có những sợi tơ nấm không màu, phân nhánh, có vách ngăn, đôi khí có những chỗ phình to giống như bào tử bao dày.

Loét do Curvularia, Nigrospora… Trên tế bào giác mạc có những sợi tơ nấm màu nâu, phân nhánh, có vách ngăn.

Cấy :

Bệnh phẩm có thể được cấy trên tube hay trên hộp petri nhưng dùng hộp petri có nguy cơ ngọại nhiễm từ không khí nhiều hơn.

Nên cấy theo nét chữ “C” vì nấm từ bệnh phẩm sẽ mọc theo đường cấy, các khúm nấm kết thành hình chữ “C”, những khúm nằm ngoài chữ “C” là ngọại nhiễm.

Cấy trên môi trường Sabouraud có kháng sinh kháng khuẩn nhưng không có kháng sinh kháng nấm. Nên ủ nhiệt độ phòng thí nghiệm (250C) vì nhiều loại nấm gây viêm giác mạc không phát triển ở 370C. Khúm nấm sẽ mọc sau 2 – 4 ngày. Tuy nhiên, sau 2 tuần không mọc mới có thể kết luận là (-). Kết quả cấy có thể (+) giả hoặc (-) giả vì vậy nên cấy trên nhiều canh cấy, nếu (+) ở nhiều tube thì (+) sẽ có giá trị hơn.

Quan sát khúm bằng mắt và dưới kính hiển vi sẽ giúp định danh vi nấm chính xác. Tuy nhiên, đối với giác mạc do vi nấm, quan sát trực tiếp quan trọng hơn cấy.

Nếu quan sát trực tiếp thấy vi nấm và cấy lên một loại nấm phù hợp thì kết quả có giá trị.

Nếu quan sát trực tiếp (-), bệnh nhân chưa điều trị đặc hiệu, thì kết quả cấy (+) có nguy cơ cao do ngoại nhiễm.

3. ĐIỀU TRỊ

Điều trị tại chỗ

Thuốc nhỏ mắt

Nhỏ mắt bằng một trong các dung dịch sau :

  • Mycostatin (Nystatin) 8.000 – 20.000 đơn vị/ml nước muối.

Thuốc mỡ : Silfadiazine 1%

Không nên nhỏ mắt bằng kháng sinh và Corticoides khi không có chỉ định

Phẫu thuật : Bóc tách phần giác mạc hư hỏng có thể giúp bệnh lành nhanh hơn. Bóc tách hàng tuần và chỉ nên bóc tách khi :

  • Lớp biểu mô giác mạc chưa bắt đầu tái tạo.
  • Phần giác mạc bị tổn thương không quá mỏng.

Tiêm dưới kết mạc :

Bằng Micoazole 5 mg/ngày hoặc Amphoterici B cũng được đề cập đến nhưng hiệu quả chưa rõ rang.

Điều trị toàn thân :

Điều trị toàn thân không cho kết quả tốt trừ khi nhiễm trùng lan rộng đến tiền phòng. Có thể dùng :

  • Ketoconazole 5 – 8 mg/kg/ngày.
  • Itraconazole 200 mg/ngày.

Điều trị thất bại thường gặp trong viêm giác mạc do vi nấm nhất là bắt đầu điều trị khi tổn thương đã lan xuống 1/3 dưới của mô liên kết giác mạc (stroma).

Điều trị khởi nghĩa là sạch nhiễm trùng và không có nghĩa là thị lực sẽ phục hồi.

4. DỰ PHÒNG

Đề phòng chấn thương mắt nhất là trong các vụ mùa.

Không lạm dụng thuốc nhỏ mắt có kháng sinh và cortioides.

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KST SÀI GÒN
CHUYÊN GIA VỀ NGỨA VÀ GIUN SÁN
Địa chỉ: 402 An Dương Vương, P.4, Q.5, TP. HCM
ĐT. 028 38 30 23 45 - Lịch khám bệnh - Xem bản đồ

TIN LIÊN QUAN

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

Tìm Kiếm

Từ khóa:

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
.
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS. ÁNH
0912171177
Hoặc Tổng đài: 0281080
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

Thong ke hom nay Hôm nay 3133
Thong ke hom qua Hôm qua 4851
Thong ke tuan nay Tuần này 16297
Thong ke tuan truoc Tuần trước 29642
Thong ke thang nay Tháng này 84924
Thong ke thang truoc Tháng trước 128494
Thong ke toan bo Toàn bộ 3939074

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN