BỆNH SÁN DÂY SPIROMETRA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

trangchu:h2;top:h3;bottom:h3;trai:h3;phai:h3;TrangDanhMuc:h2;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

BỆNH SÁN DÂY SPIROMETRA

Bệnh sán dây Spirometra erinacei hay còn gọi là sán nhái đã được phát hiện ở nhiều quốc gia ở Châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Philippine, Hàn Quốc, Ấn Độ; Châu Úc, Châu Âu, Châu Mỹ… như Australia, Brazin, Puerto Rico, Hawaii..

Mặc dù có nhiều nhận địh khác nhau nhưng đa số các nghiên cứu đều cho rằng tại Việt Nam chỉ mới phát hiện một loài Spirometra erinacei phân bố ở cả ba miền Bắc, Trung và Nam. Ở người KST gây bệnh ở giai đoạn plerocercoid hay sparganum, gây bệnh sparganosis. Từ này dùng để chỉ bệnh do giai đoạn ấu trùng của sán dây Spirometra erinacei.

1. HÌNH THỂ SÁN DÂY SPIROMETRA

Ở Việt Nam, theo nhận định của nhiều tác giả chỉ có một loài Spirometra erinacei ký sinh ở ruột non thú họ chó, mèo. Tỷ lệ nhiễm sán dây Spirometra erinacei ở chó thay đổi tùy vùng, cao nhất là 29%, thấp nhất là 6%. Spirometra erinacei ký sinh trong ruột non chó. Sán có chiều dài khoảng 1.000mm, chiều rộng chưa tới 10mm, dài khoảng 0,48mm, màu trắng, dẹp và chiều rộng lơn hơn chiều dài đốt sán.

BỆNH SÁN DÂY SPIROMETRA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

Hình ảnh sán dây Spirometra

Ấu trùng coracidium

Khi Coracidium chui ra khỏi trứng sẽ di động rất mạnh, có thể cố định bằng cách cho vào môi trường có formol 10%, lúc này quan sát coracidium có hình oval. Coracidium có chiều dài trung bình 42,8 µm, chiều rộng là 36,9 µm. Lông tơ bao phủ ấu trùng có chiều dài trung bình 12,8 µm, kích thước móc trung bình đo được là 8,6 µm.

Trong chu trình phát triển của S.erinacei, khi giáp xác bị nhiễm coracidium, sau 10 ngày, ấu trùng coracidium phát triển thành procercoid, khi bị ký chủ trung gian thứ hai nuốt phải sẽ phát triển thành plerocercoid hay sparganum. Sau 25 ngày, proercoid ở giáp xác vẫn không có sự thay đổi nào về hình thái học, nhưng sau 30 ngày, procercoid sẽ bị thoái hóa dần và hóa vôi (Lee và ctv, 1990)

Ấu trùng plerocercoid

Ấu trùng plerocercoid có chiều dài khoảng 35mm, màu trắng, phần đầu có rãnh bám, cơ thể phân nhiều đốt giả. Ấu trùng plerocercoid của S.erinacei thưởng ký sinh ở ếch, nhái, chim, bò sát. Cá không phát hiện nhiễm plerocercoid của S.erinacei.

Ký chủ trung gian thứ 2 thường là ếch, nhái. Động vật có xương sống bị nhiễm plerocercoid do ăn ếch, nhái bị nhiễm ấu trùng và có thể nhiễm plerocercoid do uống nước có giáp xác nhiễm plerocercoid. Plerocercoid hay còn gọi là (Stephen, 2004) (hình 3 và 4).

2. CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN SÁN DÂY SPIROMETRA

Trứng sán được thải ra lỗ tử cung của đốt sán theo phân ra ngoài vào môi trường nước. Ở điều kiện nhiệt độ 15-250C sau 15 ngày phát triển thành ấu trùng coracidium, sống được trong nước khoảng 12 giờ. Nếu coracidium được các loài giáp xác thuộc giống Cyclops nuốt phải, sau 2 – 3 tuần phát triển thành ấu trùng plerocercoid, ấu trùng này dài khoảng 0,5 – 0,6mm.

Sau đó nếu giáp xác bị các loài ếch và nhái ăn phải, plerocercoid sẽ di hành đến cơ hoặc các cơ quan hình thành ấu trùng thứ hai là plerocercoid dài khoảng 6mm nhưng không tạo kén. Ký chủ cuối cùng là những động vật ăn thịt, ăn phải ếch và nhái còn sống hoặc chưa nấu chín sẽ phát triển thành sán trưởng thành ở ruột non

BỆNH SÁN DÂY SPIROMETRA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

Chu trình phát triển của sán dây Spirometra

Người không phải là ký chủ cuối cùng của Spirometra erinacei. Một số nghiên cứu khác lại cho rằng người, chim, chuột, heo chỉ là ký chủ tích lũy plerocercoid của Spirometra erinacei. Điều cần lưu ý là ấu trùng plerocercoid (sparganum) của Spirometra erinacei có khả năng gây bệnh sparganosis trên người còn ấu trùng perocercoid của Diphyllobothrium latum thì không

3. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ SÁN DÂY SPIROMETRA

Bệnh sparganosis được tìm thấy khắp nơi trên thế giới. Bệnh thường xảy ra ở Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia và Đông Nam Á (Thái Lan, Việt Nam). Tại Mỹ, có 60 trường hợp đã được báo cáo (Stephen, 2004). Châu Phi, Châu Úc, Bắc và Nam Mỹ.

Người bị nhiễm do

  • Nuốt ấu trùng thứ hai proceroid có trong ký chủ trung gian 1 (Cyclops) do uống nước còn sống.
  • Ăn ký chủ trung gian 2 (ếch, nhái, rắn, chuột, chim…) có ấu trùng plerocercoid chưa nấu chín.
  • Đắp thịt ếch, nhái bị nhiễm KST giã nhỏ lên vết thương theo lối chữa bệnh dân gian, từ đó ấu trùng di chuyển đến mô.

4. LÂM SÀNG SÁN DÂY SPIROMETRA

Thỉnh thoảng người cũng có thể nhiễm ký sinh trùng sán ở giai đoạn trưởng thành ở ruột non, nhưng ít khi có biểu hiện lâm sàng. Ngược lại, nhiễm giai đoạn ấu trùng sparganum hay plerocercoid sẽ gây ra những bệnh nguy hiễm đến tính mạng.

Các plerocercoid gây ra chứng bệnh gọi là sparganosis hay Spirometra erinacei do uống phải nước chứa giáp xác đã nhiễm procercoid hoặc do ăn phải ký chủ trung gian thứ hai chưa nấu hín có chứa plerocercoid. Sparganum di hành đến cơ và mô liên kết dưới da, nhất là vùng quanh mắt gây sung phù và viêm. Một số trường hợp ấu trùng có thể xâm nhập vào não.

Sparganosis ở mắt.

Tại một số quốc gia Đông Nam Á, một số người có tập quán dùng thịt ếch đắp vào mắt chữa bệnh, do đó thường bị bệnh Sparganosis ở mắt. Bệnh cũng được phát hiệm ở phía Đông Nam nước Mỹ,một số vùng thuộc Châu Mỹ và Đông Phi (Bowman và cộng sự 2002).

Ở Việt Nam, từ năm 1982 – 1991, Trần Xuân Mai (1992) ghi nhận được 27 bệnh nhân nhiễm ấu trùng plerocercoid ở mắt tại Bệnh viện của trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó có một số bệnh nhân đã nhiễm ba ấu trùng plerocercoid do dùng thịt nhái đắp vào mắt. Gần đây, ở bệnh viện mắt TP. Hồ Chí Minh có gặp một số trường hợp.

Nhiễm dưới kết mạc gây nhiễm khuẩn và thành lập nốt chung quanh thân sán. Sán định vị ở sau nhãn cầu có thể làm lồi mắt, nhãn cầu cố định không nhắm mắt được, đưa đến viêm kết mạc và loét giác mạc.

Ở Colobia, David và Gomes (1958) cho biết một trường hợp bệnh Sparganosis ở mắt đầu tiên ở Colobia và trường hợp thứ 3 ở Nam Mỹ. Ở Hàn Quốc, Yoon và cộng sự (2004) cũng cho biết một trường hợp bệnh Sparganosis ở mí mắt bệnh nhân.

Ở Ấn Độ, Subudhi và cộng sự (2006) cho biết một trường hợp bệnh nhân nhiễm plerocercoid có chiều dài 20mm và rộng 3mm ở mắt phải. Ở Indonesia, Mangono và cộng sự (2007) cho biết có bốn trường hợp bệnh nhân bị Sparganosis.

Bệnh nhân khi bị Sparganosis ở mí mắt thường có triệu chứng chủ yếu là đau, ngứa và phù mí mắt. Ấu trùng plerocercoid định vị ở mí mắt và tạo thành khối u nhỏ từ 1 – 3 cm sau 3 – 5 tháng.

Sparganosis ở dưới da, cơ, khoang cơ thể

Ở Hàn Quốc, Paul và cộng sự (1954) cho biết có ba trường hợp bệnh nhân bị Sparganosis ở cơ bụng và phần cơ dưới ngực. Ấu trùng dài 23 – 30cm, theo các tác giả cho biết bệnh nhân bị nhiễm ấu trùng do sống ở vùng có thói quen ăn thịt rắn sống.

Tương tự, cho cộng sự (1973) đã khảo sát tình hình nhiễm plerocercoid (Sparganum erinacei) trên 75 rắn thí nghiệm trong hai họ : Colubridae (67 con gồm sáu loài) và Viperidae (tám con gồm một loài) ở thành phố Wonju – Hàn Quốc.

Kết quả cho biết tất cả các loài rắn khảo sát đều nhiễm plerocercoid. Các rắn thuộc loài Zamenis spinalis là ký chủ trung gian được ghi nhận sớm nhất tại Hàn Quốc. Các tác giả cũng cho biết thêm, ấu trùng có thể khu trú dưới da(54,4%), trong cơ (19,1%) hay trong các khoang cơ thể (26,4%).

Trạng thái gây bệnh của sparganum được chia thành ba dạng: tự do (81,8%), kết nang (13,4%) và giai đoạn thoái hóa (4,7%). Tương tự, ở Nhật Bản, Sarukawa và cộng sự (2007) cho biết có một trường hợp bệnh nhân nữ 60 tuổi bị nhiễm plerocercoid ở dưới da đùi. Qua kiểm tra trước đây sử dụng nước có ấu trùng gây nhiễm.

Sparganosis ở não

Jeong và cộng sự (1998) cho biết tại Hàn Quốc có một trường hợp bệnh nhân nữ bị nhiễm ấu trùng plerocercoid ở não. Kim và cộng sự (2007) cho biết có 17 bệnh nhân bị nhiễm plercercoid của Spirometra erinacei ở não qua theo dõi từ năm 1986 – 1994 với các tổn thương do ấu trùng được chụp X-quang và tiến hành phẩu thuật cắt bỏ hoặc điều trị bằng praziquantel.

Ở Nhật Bản, Okamura và cộng sự (1995) cho biết một trường hợp bệnh nhân bị bệnh sparganosis ở não tại Nhật Bản. Ở Trung Quốc, Bo và cộng sự (2006) cho biết một trường hợp bệnh nhân bé trai 6 tuổi đã được phát hiện ấu trùng plerocercoid ở não.

Sparganosis nơi khác

Tại Nhật, Iwatani và cộng sự (2006) đã báo cáo trường hợp một bệnh nhân 57 tuổi bị nhiễm plerocercoid ở phổi trái. Đây là báo cáo đầu tiên về mô bệnh học với tế bào trung tính và tế bào ưa eosin xâm nhập nhiều xung quanh sán.

Trung Quốc, Li và cộng sự ( (2009) cho biết có khoảng 1.000 người bị Sparganosis được báo cáo ở 27 tỉnh thành trong khoảng thời gian từ 1927 – 1997. Theo các tác giả đã mổ khám 544 ếch (455 ếch hoang dã, 89 ếch nuôi) gồm hai loài Rana nigromaculata (446 con) và R.tigrina (98 con) trong khoảng thời gian từ tháng 10/2007 đến 10/2008.

Kết quả cho thấy ếch hoang dã có tỉ lệ nhiễm plerocercoid chung là 27,3% (124/445), trong đó R.nigromaculata có tỉ lệ nhiễm 30% (107/357) còn R.tigrina có tỉ lệ nhiễm 17,3% (17/98). Không tìm thấy plecocercoid trên 98 ếch nuôi R.nigromaculata. Tổng số 719 ấu trùng được tìm thấy trên 125 ếch hoang dã, có từ 1 – 41 ấu trùng tìm thấy trên ếch bị nhiễm, trung bình mỗi ếch niễm có 5,8 ấu trùng.

5. CHẨN ĐOÁN SÁN DÂY SPIROMETRA

Trường hợp nhiễm sán trưởng thành, chẩn đoán dựa vào xét nghiệm phân tìm trứng hay đốt sán.

Dựa vào lâm sàng. Thầy thuốc lâm sàng rất quen thuộc với các thể bệnh thường gặp của sparganum ở những vùng nội dịch trọng điểm.

Chẩn đoán xác định khi tìm thấy và bắt được sparganum từ sang thương. Trường hợp sang thương ở mô sâu, khó chẩn đoán, chỉ biết được qua giải phẫu tử thi tìm thấy ấu trùng. Cần phân biệt với nhiễm ấu trùng Gnathostoma và Paragonimus.

Trường hợp có cục u dưới da di động, cần khám lâm sàng thật kỹ, cần có chẩn đoán miễn dịch phân biệt với nhiễm Cysticercus cellulosae, bướu sán nước và những bệnh không do ký sinh trùng.

Tiền sử có đắp thịt ếch, nhái giã nhỏ lên vết thương, đặc biệt ở mắt. Ăn các ký chủ chờ thời như rắn, chuột, lươn, gà, chim… chưa nấu kỹ.

6. ĐIỀU TRỊ SÁN DÂY SPIROMETRA

Giải phẫu và gắp sparganum ra khỏi sang thương.

BỆNH SÁN DÂY SPIROMETRA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

Gắp sán dây ra khỏi sang thương

7. DỰ PHÒNG

Uống nước đun sôi hay lọc.

Không ăn thịt lươn, ếch, rắn… còn sống.

Không đắp thịt ếch, nhái giã nhỏ

BS. Nguyễn Ngọc Ánh

TIN LIÊN QUAN

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

Tìm Kiếm

Từ khóa:

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
.
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS. ÁNH
0912171177
Hoặc Tổng đài: 0281080
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

Thong ke hom nay Hôm nay 1007
Thong ke hom qua Hôm qua 2858
Thong ke tuan nay Tuần này 6845
Thong ke tuan truoc Tuần trước 23902
Thong ke thang nay Tháng này 70811
Thong ke thang truoc Tháng trước 129644
Thong ke toan bo Toàn bộ 4182832

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN