BỆNH SÁN LÁ NGUY CƠ TIỀM ẨN ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CON NGƯỜI

trangchu:h2;top:h3;bottom:h3;trai:h3;phai:h3;TrangDanhMuc:h2;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

.

benhgiunsan.com Sán lá có thân dẹp, không phân đốt thành ngành sán dẹp Platyhelminthesd bao gồm các loại sán sống tự do và các loại ký sinh. Có nhiều lớp sán dẹp trong ngành Platyhelminthes nhưng chỉ có hai lớp quan trọng trong y học là sán lá Trematoda và lớp sán dải Cestoda. Trong lớp Trematoda có hai họ phổ biến trong y học: sán lá thật sự, gọi tắt là sán lá (họ Fasciolidae) và sán máng (họ Schistosomatidae).

Sán lá ký sinh ở ống tiêu hóa của động vật có xương sống hoặc các cơ quan khác như gan, mật, tụy, phổi, bàng quang. Các cơ quan này có những khoang rỗng chứa dồi dào thức ăn dạng dịch đặc như máu, mật, chất nhầy và chất bã của ruột. Sán lá chủ yếu ký sinh ở các loài động vật. Hầu hết các sán lá ký sinh bệnh cho người đều là sán lá vừa là ký sinh ở động vật vừa ký sinh ở người được xếp vào nhóm bệnh động vật ký sinh.

1.HÌNH THỂ - CƠ THỂ HỌC

BỆNH SÁN LÁ NGUY CƠ TIỀM ẨN ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CON NGƯỜI

Sán lá có thân dẹp, hình bầu dục dài hay thon dài, giống như chiếc lá, hoặc thân dày lên giống như dạng hạt dẹp. Thân sán không chia đốt, có bộ phận dùng để bám gọi là đĩa hút. Các sán lá ký sinh gây bệnh cho người có kích thước thay đổi từ 5 – 6 mm cho đến 75mm. Bao bọc bên ngoài là lớp vỏ có gai một phần hoặc toàn thân hoặc nhẵn. Sán có hai đĩa hút có cấu tạo bởi sợi cơ, chỉ có tác dụng để bám: đĩa hút miệng bao quanh miệng và đĩa hút bụng (acetabulum) ở phía bụng. Dưới lớp vỏ là ba lớp cơ:

  • Lớp cơ vòng giúp sán co duỗi theo chiều ngang của thân.
  • Lớp cơ chéo giúp sán co duỗi theo hướng chéo thân.
  • Lớp cơ dọc giúp sán co duỗi theo chiều dài của thân,

Do dó sán lá có thể co duỗi, uốn lượn theo ba hướng.

Hệ tiêu hóa

Hệ tiêu hóa của sán lá không hoàn chỉnh, bắt đầu từ miệng được bao quanh bởi đĩa hút miệng, bên dưới là hầu quản cấu tạo bởi những sợi cơ, kế tiếp là thực quản là một ống ngắn sau đó chia hai nhánh ruột kéo dài đến cuối thân và bị bít ở phần cuối, không có hậu môn. Hai nhánh ruột có thể phân chia nhiều nhánh như của sán lá lớn ở gan Fasciola spp hoặc không phân nhánh như của sán lá lớn ở ruột Fasiolopsis buski.

Hệ bài tiết

Gồm nhiều tế bào bài tiết nằm rải rác khắp cơ thể sán nối thông với hai hoặc nhiều ống bài tiết như một mạng lưới từ mỗi bên của thân sán đổ vào hai ống thu thập từ đó đổ vào nơi được coi như là bàng quang và mở ra ngoài lớp vỏ bằng một hay hai lỗ ở phần cuối thân sán.

Hệ thần kinh

Hệ thần kinh gồm hai hạch thần kinh ở phía trên, gần miệng, có vai trò như não, từ đó phát ra các sợi thần kinh chạy dọc xuống phía trước và phía sau thân. Có nhiều vòng thần kinh chạy vòng theo thân.

Hệ sinh học

Sán lá là loài lưỡng tính. Trong một cá thể có cả cơ quan sinh dục đực và cơ quan sinh dục cái. Sự thụ tinh có thể xảy ra bằng cách tự thụ tinh trong một cá thể nhưng phần lớn sự thụ tinh theo phương cách thụ tinh chéo giữa hai cá thể.

Cơ quan sinh dục đực

Gồm hai dịch hoàn có hình cầu hoặc phân chia nhiều nhánh hay nhiều thùy. Vị trí cũng như hình dạng của dịch hoàn cũng được dùng để định danh sán lá. Từ mỗi dịch hoàn có một ống dẫn tinh đưa tinh trùng đến túi giao hợp (Cirrus) bên trong bao gồm túi chứa tinh, ống phóng tinh và cuối cùng là lỗ giao hợp. Túi giao hợp thông với lỗ sinh dục chung cũng là nơi nối thông tử cung của cơ quan sinh dục

Cơ quan sinh dục cái

Có cấu tạo tương đối phức tạp bao gồm một buồng trứng, một ống dẫn trứng, túi chứa tinh, tuyến noãn hoàng nằm rải rác hai bên thân sán nối với hai ống dẫn noãn hoàng, một buồng hoàn thành trứng (Ootype), tử cung uốn khúc. Tại buồng hoàn thành trứng, trứng được cung cấp noãn hoàng từ tuyến noãn hoàng, hình thành lớp vỏ trứng, thụ tinh với tinh trung từ túi nhận tinh và trứng đã thụ tinh sẽ được đưa vào tử cung và từ tử cung trứng sẽ được phóng thích ra bên ngoài qua lỗ đẻ nằm trong lỗ sinh dục chung.

Hệ tuần hoàn và hô hấp

Sán lá không có hệ tuần hoàn và hệ hô hấp.

2. CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN

Sán lá có hai chu trình phát triển: Chu trình hữu tính thực hiện bên trong ký chủ vĩnh viễn ; Chu trình vô tính thực hiện ở bên trong ký chủ trung gian. Chu trình vô tính của các sán lá gây bệnh cho người đều phải thực hiện trong môi trường nước ngọt và phải qua một hoặc hai ký chủ trung gian sống trong nước ngọt để hoàn thành chu trình phát triển. Ốc là ký chủ trung gian bắt buộc của chu trình vô tính, ký chủ trung gian thứ hai (nếu có) là các loài cua, tôm, cá nước ngọt.

Trứng

Trứng sán lá có hình bầu dục, vỏ dầy, trong suốt, có nắp ở một cực của trứng. Kích thước trứng thay đổi từ 35 µm – 150 µm. Trứng được thải ra ngoài theo phân hoặc đàm. Trứng khi ra khỏi ký chủ phần lớn chưa có ấu trùng bên trong trứng trừ trường hợp của sán lá nhỏ ở gan Clonorchis sinensis thì trứng khi ra khỏi ký chủ đã có sẵn ấu trùng bên trong. Trứng phải được thải vào trong nước thì trứng mới phát triển nở ra ấu trùng.

Ấu trùng lông (Miracidium)

Trứng ở trong môi trường nước sau một thời gian sẽ hình thành ấu trùng trong trứng và nở ra ấu trùng lông bơi lội trong nước. Ấu trùng lông hình dạng như trái lê, có một chủy ở đầu. Ấu trùng lông có nhiều lông tơ quanh cơ thể giúp ấu trùng bơi lội được trong nước. Nhờ vào sự thu hút hóa hướng động và một vài chất trong cơ thể của ốc, ấu trùng lông sẽ tìm các loại ốc đặc thù cho mỗi loài sán, để chui vào nhờ chủy và các men ly giải tiết ra từ tuyết nằm ở phần đầu của ấu trùng lông. Ấu trùng lông sẽ chết nếu sau 2 ngày không chui được vào trong con ốc ký chủ trung gian.

Bào tử nang (Sporoccyst)

Ấu trùng lông sau khi chui vào cơ thể ốc sẽ chuyển hóa thành bào tử nang. Bào tử nang có hình túi, kích thước 500 µm, bên trong chứa nhiều ấu trùng redia.

Redia

Redia xuyên thủng bào tử nang trùng xâm nhập vào gan, tụy của ố tiếp tục phát triển. Redia có hình túi dài nhưng đã xuất hiện đĩa hút miệng đơn sơ và có hiện diện hầu quản đơn giản. Bên trong Redia có thể có nhiều redia cấp 2 (redia con) hoặc ấu trùng đuôi. Ấu trùng đuôi sẽ được redia phóng thích ra từ “lỗ đẻ” hoặc ấu trùng đuôi làm vỡ redia để thoát ra xoang cơ thể ốc ký chủ.

Ấu trùng đuôi (Cercaria)

Ấu trùng đuôi đã có 2 nhánh ruột, đĩa hút và một đuôi. Ấu trùng chui ra khỏi cơ thể ốc và ấu trùng đuôi lội trong nước nhờ cử động của đuôi. Ấu trùng đuôi sẽ rụng đuôi biến thành nang ấu trùng sau một thời gian ngắn. Ấu trùng đuôi xâm nhập vào ký chủ trung gian thứ hai hoặc cây sống dưới nước nhờ vào có tuyến xuyên thủng lớp vỏ của ký chủ trung gian thứ hai hoặc lớp vỏ của cây sống dưới nước.

BỆNH SÁN LÁ NGUY CƠ TIỀM ẨN ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CON NGƯỜI

Nang ấu trùng (Metacercaria)

Nang ấu trùng có hnh cầu, vách nang dầy, bên trong ấu trùng có hai đĩa hút và ruột chia hai nhánh tương đối rõ. Tùy vào loài sán mà nang ấu trùng sẽ được hình thành trên các loại cây sống dưới nước như trường hợp của sán lá ở gan, sán lá lớn ở ruột hoặc nang ấu trùng hình thành ở các loài cá nước ngọt (sán lá nhỏ ở gan) hoặc cua, tôm (sán lá phổi).

Người hoặc thú khi ăn các loại cây, rau mọc dưới nước hoặc ăn cua, cá chưa chín có nang ấu trùng còn sống, vào trong đường ruột, nang vỡ ra phóng thích sán non, có hình dạng của sán trưởng thành nhưng không có cơ quan sinh dục cug như các cơ quan khác rõ rệt, xâm nhập vào các nơi ký sinh phù hợp và lột xác trưởng thành. Sau đó, sán lá trưởng thành đẻ trứng và chu trình được tiếp tục.

3. SÁN LÁ GÂY BỆNH CHO NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Trước năm1990, ở Việt Nam hầu như chỉ phát hiện sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis ở người với tỉ lệ nhiễm cao, chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Các loại sán lá gan lớn, sán lá ruột và sán lá phổi được đánh giá là hiếm gặp. Hiện nay, nhờ vào tiến bộ về miễn dịch học, sinh học phân tử nên chẩn đoán phát hiện các loại sán lá gây bệnh cho người ngày càng nhiều và tỉ lệ nhiễm của mỗi loại cũng rất cao. Dưới đây là các loại sán lá gây bệnh cho người ở Việt Nam.

  • Sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis có tỉ lệ nhiễm cao ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam.
  • Sán lá gan nhỏ Opisthorchis viverrini phát hiện chủ yếu ở miền Trung Việt Nam.
  • Sán lá gan lớn Fasciola spp. phát hiện chủ yếu ở khu vực miền Trung và đang phát triển rộng khắp nước.
  • Sán lá ruột lớn Fasciolopsis buski phân bố nhiều tỉnh thành phía Bắc.
  • Sán lá ruột nhỏ Echinostoma spp. và các loài thuộc họ Heterophyidae gặp chủ yếu ở các tỉnh từ Thừa Thiên Huế trở lên phía Bắc.
  • Sán lá phổi Paragonimus spp gặp nhiều ở các tỉnh vùng cao ở miền Bắc.

4. KHÁI QUÁT VỀ SÁN MÁNG

Sán máng thuộc lớp Trematoda, lớp phụ Digenea, đĩa hút họ Schitosomatidae. Sán máng là loài đơn tính, có con đực và cái riêng biệt. Kích thước từ 1cm – 2cm. Con cái dài hơn con đực. Phần đầu của con đực có hình ống nhưng bên dưới có thân dẹp uốn cong vào tạo thành lòng máng chứa con cái nằm bên trong. Con cái có hình ống, luôn luôn nằm trong lòng máng của con đực. Sán máng cũng có hai đĩa ai đĩa hút, một ở miệng và một bên dưới. Sáng máng cái đẻ trứng, trứng có một gai ở một cực hoặc ở một bên của trứng. Trứng không có nắp như trứng của sán lá.

BỆNH SÁN LÁ NGUY CƠ TIỀM ẨN ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CON NGƯỜI

Chu trình phát triển

Sán máng trưởng thành ký sinh trong các tĩnh mạch mạc treo ruột, nhánh tĩnh mạch cửa hay đám rối tĩnh mạch bàng quang. Chu trình phát triển của sán máng gần giống chu trình phát triển của sán lá: cần phải có môi trường nước và cần có ký chủ trung gian là ốc. Trứng sán máng được thải theo phân hoặc nước tiểu ra trong nước, trứng nở ra ấu trùng lông xâm nhập vào ốc đặc thù của mỗi loại sán máng. Trong cơ thể ốc, ấu trùng lông sẽ chuyển hóa thành bào tử nang (sporocst) rồi thành ấu trùng đuôi (Cercaria), không có giai đoạn redia. Sau đó, ấu trùng đuôi thoát khỏi cơ thể ốc và bơi lội trong nước. Ấu trùng đuôi (Cercaria) sủa sán máng có đuôi chẻ làm hai (nên còn gọi là Furcocercaria). Ấu trùng đuôi sẽ xâm nhập vào người bằng cách chui qua da khi người tiếp xúc với nước như tắm, lội, làm việc dưới nước. Ấu trùng đuôi theo máu đến các tĩnh mạch nơi ký sinh và lột xác trưởng thành.

Các loại sán máng ký sinh gây bệnh cho người

Có năm loài sán máng ký sinh ở người :

  • Schistosoma mansoni : Phân bố ở Châu Phi nhiệt đới và châu Mỹ la tinh.
  • Schistosoma haematobium : Thường gặp ở Châu Phi và Trung Đông.
  • Schistosoma japonicum : Chủ yếu ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Philippines.
  • Schistosoma intercalatum : phát hiện ở Châu Phi.
  • Schistosoma mekongi : Mới phát hiện khoảng năm 1990 tại Thái Lan, Lào, Cambodia ở các vùng triền sông Mekong.

Tuy hiện nay ở Việt Nam chưa phát hiện có sán máng mặc dù đã có nhiều công trình điều tra tầm soát, nhưng S.mekongi đã được phát hiện ở Thái Lan, Lào, Cambodia ở các vùng dọc sông Mekong chảy qua Việt Nam chia thành sông Tiền và sông Hậu mở ra biển Đông với chín cửa. Đồng bằng sông Cửu Long với hai sông Tiền cà sông Hậu cùng với bao nhiêu nhánh của hai sông này giúp cho các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long có phù sa màu mỡ, phát triển thủy sản nhưng cũng ngầm chứa nguy cơ sẽ là nơi hứng chịu các mầm bệnh được truyền theo sông Mekong từ thường nguồn trong đó có khả năng có sán máng S.mekongi.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Bệnh sán chó có nguy hiểm không?
Đêm nằm ngủ sờ thấy đốt sán ở hậu môn
Dấu hiệu nào để nhận biết bệnh giun sán?
Dấu hiệu nhận biết bệnh giun lươn
Tại sao nhiễm giun sán lại bị ngứa da?

.

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KST SÀI GÒN
CHUYÊN GIA VỀ NGỨA VÀ GIUN SÁN
Địa chỉ: 402 An Dương Vương, P.4, Q.5, TP. HCM
ĐT. 028 38 30 23 45 - Lịch khám bệnh - Xem bản đồ
BS tư vấn:​ BS. Nga. 0912 444 663 - BS. Ánh 0912 171 177

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS.NGA
0912.444.663
.
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN