BỆNH GHẺ NGỨA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

trangchu:h2;top:h3;bottom:h3;trai:h3;phai:h3;TrangDanhMuc:h2;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

BỆNH GHẺ NGỨA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

1. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH GHẺ NGỨA

Cái ghẻ, thuộc lớp nhện (Arachnida), họ Sarcoptidae, là một loại mạt ký sinh thường xuyên trong da nhiều loài động vật hữu nhũ. Chủng gây bệnh ở người là Sarcoptes scabiei var. hominis. Các chủng gây bệnh cho thú nuôi hoặc thú hoang dại cũng có thể nhiễm cho người nhưng do tính đặc hiệu hẹp về ký chủ nên bệnh thường tự giới hạn trong một thời gian ngắn. Bệnh cái ghẻ có tính lây cao, có thể phát triển thành dịch trong cộng đồng và trong bệnh viện. Nói chung, cái ghẻ không gây tác hại trầm trọng nhưng nếu không điều trị, có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm, đe dọa tính mạng bệnh nhân.

2. HÌNH THỂ VÀ CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN BỆNH GHẺ NGỨA

Hình thể

Cái ghẻ trưởng thành màu trắng hơi vàng, hình bầu dục, kích thước con cái khoảng (330 – 450 µm), con đực (200 – 240 µm) x (150 – 200 µm), bộ phận miệng kiểu nhai, có tám chân ngắn. Ở con cái, tận cùng hai cặp chân trước là giác hút hình chuông, hai cặp chân sau là lông cứng dài. Trong khi ở con đực, chỉ cặp chân thứ ba kết thúc bằng sợi lông cứng dài, các cặp chân còn lại đều có giác hút tận cùng. Mặt bụng cái ghẻ phẳng, rải rác một ít lông tơ và lông cứng. Mặt lung hơi lồi, có nhiều lông và nhiều rãnh ngang gần như song song với nhau trừ một vùng nhưngỏ trơn láng ngay dưới đầu. Giữa lung có nhiều gai hình răng, một vài nơi xuất hiện gai hình ngón tay. Số lượng, vị trí và hình dạng cấu trúc gai ở mặt lung giúp định danh cái ghẻ Sarcoptes scabiei.

Trứng cái ghẻ hình bầu dục, trong suốt, vỏ mỏng, kích thước lớn (170 µm x 92 µm).

Chu trình phát triển

Sau khi xâm nhập da ký chủ, cái ghẻ tạo nên các đường hầm ngoằn ngoèo do sự phá hủy mô dưới da làm thức ăn và làm nơi trú ngụ. Những đường hầm này chỉ giới hạn ở lớp sừng của thượng bì trừ trường hợp bệnh ghẻ Nauy, mạt ghẻ có thể xâm lấn sâu hơn. Mỗi ngày chúng đào khoảng 2 – 3mm, thường hoạt động mạnh vào ban đêm là con cái thụ tinh. Trứng được đẻ trong đường hầm dọc theo hướng di chuyển của cái ghẻ, mỗi lần khoảng 2 – 3 trứng. Sau 3 – 5 ngày trứng nở ra ấu trùng chỉ có 6 chân. Ấu trùng rời bỏ đường hầm lên mặt da, xâm nhập vào nang lông hoặc chui vào lớp vảy thượng bì tạo nên các bọc rất khó thấy bằng mắt thương. Chúng sống trong các bọc này và lột xác hai lần thành con trưởng thành. Sự thụ tinh có lẻ xảy ra trên mặt da. Thời gian cần thiết cho một chu trình phát triển của cái ghẻ là 8 – 15 ngày. Đời sống cái ghẻ kéo dài khoảng 4 – 5 tuần. Con cái đẻ trứng suốt thời gian này với khoảng cách là 2 – 3 ngày một lần. Rất nhiều tác giả cho rằng cái ghẻ có thể sống vài ngày và đẻ trứng bên ngoài cơ thể ký chủ ở môi trường mát mẻ, trứng có thể nở trên giường chiếu, quần áo… Tất cả các giai đoạn phát triển của cái ghẻ đều có khả năng lây nhiễm.

BỆNH GHẺ NGỨA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

Chu trình phát triển của bệnh ghẻ ngứa

3. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GHẺ NGỨA

Bệnh gặp khắp nơi trên thế giới, nhất là các nước kém phát triển. Nhóm nguy cơ cao bao gồm những người sống tập thể, chen chúc, có vệ sinh cá nhân kém như dân cư khu nhà ổ chuột, tù nhân, quân nhân… Tần suất bệnh hàng năm vào khoảng 300 triệu ca trên toàn thế giới và có khả năng phát dịch.

Bệnh lây truyền từ người sang người chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp, nhất là qua hoạt động tình dục, đôi khi gián tiếp qua giường chiếu, quần áo, khan lau…của bệnh nhân. Tuy nhiên vẫn còn nhiều tranh luận về kiểu lây lan gian tiếp này.

Sự lây nhiễm do tiếp xúc với thú nuôi cũng có thể xảy ra nhưng các chủng của động vật kém thích nghi trên cơ thể người vì vậy bệnh không kéo dài và thường tự giới hạn.

4. BỆNH HỌC BỆNH GHẺ NGỨA

Các biểu hiện bệnh lý của cái ghẻ chủ yếu là kết quả sự đáp ứng quá mẫn muộn (type 4) đối với các chất tiết của cái ghẻ hơn là do sự hiện diện các vật thể lạ trong da (con trưởng thành, trứng, ấu trùng) cũng như do các hoạt động của cái ghẻ. Đáp ứng này gây ra các phản ứng dị ứng ở vùng da bị nhiễm đôi khi lan rộng hơn vị trí xâm nhập của cái ghẻ. Khảo sát mô bệnh học cho thấy các tế bào T và đại thực bào (nhưng rất ít tế bào B) thâm nhiễm dày đặc ở vùng quanh huyết quản lan rộng đến vùng thượng bì gần nơi cái ghẻ ký sinh. Phản ứng toàn thân thể hiện bởi sự gia tăng bạch cầu ái toan và hiệu giá kháng thể IgE giảm dần trong vòng 1 năm. Một chứng cứ khác của hiện tượng quá mẫn trong bệnh học cái ghẻ là các triệu chứng xuất hiện nhanh hơn khi bị tái nhiễm đầu tiên là 2 – 6 tuần nhưng chỉ 1 – 4 ngày trên những người đã được mẫn cảm bởi lần nhiễm trước.

4.1. Ghẻ ngứa thể thông thường

Bệnh khởi đầu một cách âm thầm, không rõ ràng, thường được cho là vết muỗi chích hoặc da khô. Sự gãi do ngứa sẽ phá hủy đường hầm, giúp cái ghẻ lan rộng trên da bệnh nhân. Sau 2 – 8 tuần, ngứa bộc phát dữ dội nhiều nơi trên cơ thể, đặc biệt về đêm, là biểu hiện đặc trưng của bệnh. Quan sát vùng da bị ngứa có thể thấy các sang thương ban đầu như đường hầm, mụn nước nhỏ, sẩn gai nhưng các biểu hiện này thường bị phá hủy ngay do gãi hoặc do bệnh nhân thoa các loại thuốc không đặc hiệu nhu antihistamine, steroids. Đường hầm xuất hiện trên da dưới dạng kẻ ngoằn ngoèo, dài khoảng 2 – 15mm, màu hồng nhạt, hơi gồ cao, đoạn cuối hơi nở rộng, đôi khi thấy con ghẻ dưới dạng một chấm đen nằm cuối đường hầm. Sẩn gai và các mụn nước nhỏ như đầu kim được phân bổ rời rạc, là dấu hiệu rất thường gặp ở trẻ em.

Các sang thương do cái ghẻ khu trú một cách điển hình ở kẽ và mặt bên các ngón, mặt bên bàn tay, bàn chân, cổ tay, vùng nách, vùng quanh rốn, thắt lưng, bẹn, bìu, nếp dưới vú, bả vai. Ở trẻ em, cái ghẻ có thể tấn công vùng đầu, mặt, cổ.

Một số hình ảnh tổn thương da do bệnh ghẻ

BỆNH GHẺ NGỨA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG BỆNH GHẺ NGỨA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG
BỆNH GHẺ NGỨA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG BỆNH GHẺ NGỨA CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

Các tổn thương ban đầu do ngứa gãi có thể dẫn đến những biến chứng như chàm rỉ nước, bội nhiễm vi trùng, hoặc nặng hơn như nhiễm trùng huyết, viêm vi cầu thận cấp do liên cầu trung tiêu huyết (Streptococcus β hemolytique).

Ghẻ Nauy (ghẻ đóng mài cứng)

Ghẻ Nauy là một dạng viêm da bong vảy và đóng mài cứng do Sarcoptes scabiei. Tổn thương có thể lan rộng toàn thân và các chi với sự xuất hiện những nốt giống như mụn cóc. Đôi khi da vùng mặt cũng bị bong vảy và tóc rụng nhiều. Khác với thể thông thường, ngứa không phải là biểu hiện chính của bệnh và thường không xảy ra. Bệnh có khuynh hướng gặp ở những người suy giảm miễn dịch do ung thư máu, ghép cơ quan, nhiễm HIV, suy dinh dưỡng nặng… Mật độ ký sinh trùng rất cao, có thể lên đến hàng ngàn thậm chí hàng triệu con trên một bệnh nhân.

5. CHẨN ĐOÁN BỆNH GHẺ NGỨA

Chẩn đoán định hướng

Ngứa về đêm và sự phân bố đặc biệt của các sang thương trên cơ thể bệnh nhân rất co gía trị trong định hướng bệnh. Ngoài ra tính tập thể của bệnh cũng là một yếu tố dịch tễ quan trọng góp phần vào chẩn đoán.

Chẩn đoán xác định

Chẩn đoán được xác định khi tìm thấy một trong các giai đoạn phát triển của cái ghẻ hoặc các hạt phân do cái ghẻ thải ra trong đường hầm hoặc trong các mụn nước.

Lựa chọn sang thương để lấy bệnh phẩm

  • Đường hầm : Dùng kíp lúp cầm tay quan sát các vùng bị tổn thương để xác định nơi có đường hầm. Nhỏ một giọt mực xanh hoặc đen lên vị trí này để làm hiện rõ đường hầm. Thấm lượng mực thừa trên mặt da bằng miếng gòn tẩm alohol. Thu thập bệnh phẩm ở cuối đường hầm (phần hơi nở rộng) có thể tìm thấy cái ghẻ cái.
  • Mụn nước : Chọn các mụn nước còn nguyên vẹn để lấy mẫu.
  • Sẩn : Thường không tìm thấy cái ghẻ trong các sẩn vì sang thương này chủ yếu là kết quả của phản ứng quá mẫn hơn là từ sự lâm sàng của cái ghẻ.

Thu thập bệnh phẩm

  • Dùng dao mổ cạo nhẹ trên sang thương để phá vở đường hầm hoặc mụn nước. Bệnh phẩm sẽ dính lên đầu mũi dao. Đặt bệnh phẩm lên phiến kính dày đã nhỏ sẵn 1 – 2 giọt KOH 20%. Đậy phiến kính mỏng lên phết ướt và quan sát dưới kính hiển vi.
  • KOH có thể tiêu hủy các hạt nhân. Vì vậy có thể dùng dầu soi kính hoặc dầu khoáng thay cho KOH: Nhỏ một giọt dầu lên vùng sang thương đã chọn sau đó cạo lấy bệnh phẩm. Đặt bệnh phẩm lên phiến kính, them 1 – 2 giọt dầu và khuấy kỹ để các đám tế bào vẩy da phân tán đều, không che lấp KST và hạt nhân. Dầu giúp bệnh phẩm dính tốt hơn lênmũi dao và lên lam kính đồng thời không làm tan các hạt nhân.
  • Phương pháp dán băng keo trong cũng được sử dụng nhưng kém hiệu quả hơn.

Quan sát dưới kính hiển vi

Quan sát bằng vật kính x 10 để tìm cái ghẻ, trứng và các hạt nhân. Nếu dùng dầu thay KOH, có thể thấy cái ghẻ cử động và các hạt phân xuất hiện dưới dạng những hạt tròn hoặc bầu dục, màu nâu vàng, kích thước khoảng 30 x 15 µm.

6. ĐIỀU TRỊ BỆNH GHẺ NGỨA

Nguyên tắc

  • Điều trị đồng thời bệnh nhân và tất cả các thành viên trong gia đình bệnh nhân dù có ngứa hay không.
  • Phối hợp với vệ sinh cá nhân, khử trùng quần áo, chăn màn, giường chiếu của bệnh nhân bằng luộc sôi, phơi khô ngoài trời nắng.
  • Khi thoa thuốc phải thoa trên bề mặt da từ đỉnh đầu đến bàn chân đối với ghẻ Nauy và trẻ em bị ghẻ ngứa thông thường; từ cổ đến bàn chân cho các trường hợp ghẻ thường ở người lớn. Để thuốc tác dụng trong vòng 8 – 12 giờ, sau đó tắm rửa sạch.
  • Nếu còn mầm bệnh, 1 tuần sau lặp lại điều trị, nhất là khi sử dụng các thuốc không tác dụng trên trứng cái ghẻ.
  • Các thuốc thoa sẽ thấm tốt vào lớp thượng bì nếu độ ẩm trên da tăng nhưng đồng thời cũng làm tăng nguy cơ hấp thu vào cơ thể vì vậy cần lưu ý khi sử dụng các thuốc thoa có độc tính cao như Lindane.

Thuốc đặc hiệu

Crème Elimite (crème permethrine5%):

Dạng tổng hợp của pyrethrin, có khả năng diệt tất cả các giai đoạn của cái ghẻ kể cả trứng nên chỉ cần thoa một lần, rất hiệu quả và ít độc, hiện nay là lựa chọn đầu tiên trong điều trị bệnh cái ghẻ.

Lindane (gamma benzene hexachloride):

Được sản xuất dưới dạng thoa (crème, dung dịch) hoặc xà bông tắm. Thuốc tác dụng lên các giai đoạn của cái ghẻ nhưng hơi kém hiệu quả hơn permethrine và còn nhiều tranh cãi về khả năng gây độc thần kinh của Lidane vì vậy không nên dùng cho các bệnh nhân có tiền sử bệnh thần kinh, trẻ em đặc biệt trẻ suy dinh dưỡng, phụ nữ có thai hoặc cho con bú. Sự kháng thuốc đã bắt đầu xuất hiện ở nhiều nơi.

Sulfur dạng thuốc mỡ 6%:

Không diệt được trứng cái ghẻ, thoa mỗi ngày 1 lần, thoa trong 3 ngày,hiệu quả cao và an toàn khi dùng cho trẻ em, nhưng gây mùi khó chịu và nhuộm vàng da, mất thẩm mỹ, có thể làm khô da.

Eurax (10% crotamiton, N-ethyl-o-crotonotoluidide

Dạng kem hay dung dịch, dùng cho trẻ dưới 2 tháng tuổi, thoa mỗi ngày 1 lần trong 5 ngày liên tiếp, tác dụng kém hơn permethrine và lindane.

Điều trị hỗ trợ

* Phối hợp kháng sinh nếu bị nhiễm trùng.

* Chống ngứa bằng antihistamine.

BS. Nguyễn Ngọc Ánh (St)

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KST SÀI GÒN
CHUYÊN GIA VỀ NGỨA VÀ GIUN SÁN
Địa chỉ: 402 An Dương Vương, P.4, Q.5, TP. HCM
ĐT. 028 38 30 23 45 - Lịch khám bệnh - Xem bản đồ

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS.NGA
0912.444.663
.
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN