BỆNH NẤM CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

trangchu:h2;top:h3;bottom:h3;trai:h3;phai:h3;TrangDanhMuc:h2;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

BỆNH NẤM CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

1. ĐỊNH NGHĨA

Giới nấm (kingdom Fungi)

Theo Whittaker (1969), các sinh vật trên trái đất được chia thành năm giới:

  • Monera: Gồm những sinh vật prokaryotes như vi trùng, actinomyces, tảo lam lục.
  • Protoctista: Là những sinh vật đơn bào eukaryotes.
  • Plantae: thực vật (eukaryotes).
  • Animalia: Động vật (eukaryotes)
  • Fungi: Là những sinh vật eukarytes như nấm men (yeast), nấm mốc (mold), nấm quả (mushroom).

Như vậy, nấm (fungi), từ dùng để chỉ tất cả những thành viên trong giới nấm, là những sinh vật có nhân và vách tế bào thực sự, sinh sản bằng cách sinh bào tử (spore). Chúng không có diệp lục tố, dinh dưỡng theo cách dị dưỡng (heterotrophic) nhờ có hệ thống men phong phú giúp phân hủy các chất hữu cơ trong môi trường.

Nấm y học (medical mycology)

Nấm y học là môn học nghiên cứu về mối liên quan giữa nấm gây bệnh và sức khỏe con người nói chung.

Bệnh học do nấm bao gồm các tình trạng ngộ độc do nhiễm độc tố của đại nấm (nấm quả) hoặc vi nấm, dị ứng do vi nấm và nhiễm trùng vi nấm. Tuy nhiên, nấm y học chủ yếu đề cập đến các bệnh nhiễm trùng do vi nấm vì đây là lãnh vực quan trọng nhất đối với sức khỏe con người mà vấn đề phòng ngừa và điều trị vẫn còn nhiều hạn chế.

2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA VI NẤM

Hình thể

Hình dạng vi nấm thay đổi tùy theo loài và điều kiện sống của môi trường; nhưng nói chung, vi nấm phát triển chủ yếu dưới hai dạng: tế bào hạt men và sợi tơ nấm.

Dạng tế bào hạt men

Là những tế bào tròn hoặc bầu dục, đường kính khoảng 5 – 10 µm. Từ các tế bào này nảy ra các búp. Búp lớn dần, khi bằng tế bào gốc sẽ tách thành một tế bào riêng biệt. Các búp có thể phát triển thành đoạn dài, nảy them búp mới với tiến triển tương tự để hình thành sợi tơ nấm giả (pseudothyphae). Khi tế bào hạt men và sợi tơ nấm giả phát triển trên môi trường cấy sẽ tạo ra các khúm (colony) giống như khúm vi trùng, thường tròn, bề mặt nhẵn, không bao giờ lớn như khúm nấm sợi. Các loại vi nấm phát triển chủ yếu theo dạng tế bào hạt men và được gọi là nấm men (yeast).

BỆNH NẤM CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

Dạng sợi tơ

Là những ống dài, mảnh mai, đường kính khoảng 5-10 µm, phân nhánh bởi các vách ngăn có thể thông suốt hoặc được chia sợi nấm thành nhiều tế bào (nhiều ngăn). Các sợi nấm đan kết lại với nhau tạo thành hệ sợi nấm hay thể tơ nấm (mycelium) và khi chúng phát triển trên môi trường cấy được gọi là khúm nấm. Kích thước khúm nấm thường lớn, có thể lan khắp bề mặt của hộp petri.

BỆNH NẤM CÓ NGUY HIỂM KHÔNG

Hình ảnh nấm sợi tơ

Sự phân bố vi nấm

Hầu hết các vi nấm hiện diện khắp nơi trên thế giới. Một số ít loài chỉ tồn tại ở những vùng nhất định như Penicillium marneffei phân bố trong khu vực Đông Nam Á, Histoplasma duboisii xuất hiện ở châu Phi, châu Mỹ, Blatomyces spp. khu trú ở Bắc và Nam Mỹ…

Vi nấm phát tán từ nơi này sang nơi khác nhờ gió, nước hoặc phân các loài chim, gặm nhấm…

Hiện nay khoảng 100.000 loại vi nấm đã được khám phá nhưng chỉ khoảng 150 loại có khả năng gây bệnh cho người và thú. Đa số vi nấm sống hoại sinh, một số ít ký sinh trên cơ thể sinh vật sống.

Ở trạng thái hoại vi :

Vi nấm phát triển trong tự nhiên (đất, nước, vỏ cây, lá cây…) hoặc trên sinh vật sống (người, thú) hoặc cả hai. Khi vi nấm tồn tại ở môi trường bên ngoài, sử dụng chất hữu cơ có sẵn trong đất, nước hoặc từ sinh vật chết, được gọi là vi nấm ngọại hoại sinh (exosaprophytes). Khu chúng trên bề mặt cơ thể sinh vật sống, dùng các chất cặn bã trên da như vảy da, mồ hôi, chất béo làm nguồn dinh dưỡng, gọi là vi nấm thương hoại sinh (episaprophutes). Các vi nấm nội hoại sinh (endosaprophytes) cư trú trong cơ thể sinh vật sống nhưng chất dinh dưỡng của chúng chỉ là các chất thải co trong phân, nước tiểu, dịch âm đạo… Vài loại vi nấm có đời sống nội – ngọại hoại sinh (endo – exosaprophytism) như Cryptococus neoformans, Candida krusei, Candida tropicalis, Geotrichum candidum…

Ở trạng thái ký sinh: Vi nấm có thể ký sinh thường xuyên trên người (anthropophile), trên thú (zoophile) nhưng có nhiều loài, chủ yếu sống hoại sinh và chỉ ký sinh khi có điều kiện thuận lợi.

Vị dụ : Microsporum canis: zoophile

Trichophyton rumbrum: anthropophile.

Aspergillus spp, Trichophyton mentagrophytes chủ yếu sống hoại sinh nhưng có thể gây bệnh cho người.

Sự sinh sản

Sự sinh sản của vi nấm rất quan trọng vì đây là phương tiện giúp vi nấm tồn tại và phát tán trong môi trường tự nhiên cũng như trong cơ thể sinh vật sống. Ngoài ra, kiểu sinh sản và cấu trúc sinh sản là những yếu tố cần thiết để định danh vi nấm. Vi nấm có nhiều kiểu sinh sản khác nhau, một cách tổng quát có thể chia thành hai hình thức : vô tính và hữu tính. Cả hai hình thức sinh sản này đều tạo ra

Đối với nấm men

Sinh sản vô tính theo kiểu nảy búp, từ một tế bào mẹ có thể sinh ra một hoặc nhiều búp (blastospore) như trường hợp vi nấm Candida spp.

Sinh sản hữu tính: hai tế bào hạt men phối hợp với nhau tạo thành các bào tử túi (ascospore) nằm trong túi bào tử (ascus), ví dụ : vi nấm Saccharomyces cerevisiae.

Đối với nấm sợi

Sinh sản vô tính:

Sợi tơ nấm chìm đứt ra thành nhiều bào tử đốt (arthrospores) gặp trong vi nấm Trichophyton spp., Epidermophyton sp., Microsporm spp…

Khi môi trường thiếu chất dinh dưỡng, một số ngăn của sợi nấm sẽ tập trung các chất bổ, vì thế chúng tăng kích thước, trở nên tròn và vách rất dày tạo thành bào tử bao dày (chlamydospore). Các bào tử này có thể được thành lập ở giữa (intercnasilary), ở bên (latera) hoặc ở đầu tận cùng của sợi nấm (terminal). Các sợi nấm chết dần do thiếu thức ăn, nhưng bào từ bao dày tồn tại rất bền cho đến

Sinh bào từ từ bào đài : Bào đài là một nhánh của sợi nấm nhô lên không khí (aerial hyphae). Từ bào đài sẽ sinh ra các bào tử (conidium). Hình thức sinh bào tử rất đa dạng và là yếu tố quan trọng để định danh vi nấm.

Sinh sản hữu tính : Có sự kết hợp của hai tế bào sợi nấm để hình thành các bào tử. Tùy theo loại nấm, sự thành lập các tế bào tử rất đa dạng và có tên gọi khác nhau, ví dụ : nấm đảm sinh bào tử đảm (basidiospore), nấm tảo sinh bào tử tiếp hợp (zygospore)…

Đặc điểm sinh học của vi nấm trong labo

Dinh dưỡng

Sự phát triển của vi nấm trên môi trường cấy, nói chung, không đòi hỏi nhiều nguồn dinh dưỡng phức tạp. Các chất đủ cho sự phát triển của chúng là hydrat carbon, đạm hữu cơ hoặc vô cơ (nitral, ammonium…), muối khoáng, nước. Môi trường chủ yếu trong các labo dùng phân lập vi nấm là môi trường Sabouraud chứa 1% pepton và 2% glucose.

Nhiệt độ ủ

Vi nấm

Tốc độc mọc

Ở 20 – 250C

Ở 35 – 370C

Hoại sinh

Nhanh

Chậm

Ký sinh

Chậm

Nhanh

Tốc độ phát triển trên môi trường cấy

So với vi trùng, vi nấm mọc chậm hơn, vì vậy cần cho them kháng sinh kháng khuẩn vào môi trường cấy để ức chế vi trùng, dành chất dinh dưỡng cho vi hấm phát triển. Các kháng sinh thường dùng là chloramphenicol, penicillin, gentamycine.

Vi nấm hoại sinh mọc nhanh hơn vi nấm ký sinh, do đó tùy theo định hướng tác nhân gây bệnh, đôi kkhi cần cho thêmhi cần cho thêm kháng nấm cycloheximide (actidione) vào canh cấy để ức chế vi nấm ngọại nhiễm khi phân lập vi nấm từ bệnh phẩm.

Hiện tượng nhị độ (diphasism) hay hiện tượng lưỡng hình (dimorphysism)

Hình thể của một số vi nấm có thể thay đổi theo điều kiện của môi trường. Trên cơ thể ký chủ hoặc trong môi trường cấy giàu chất dinh dưỡng ủ ở 370C, vi nấm tồn tại dưới dạng hạt men. Ngược lại, trong thiên nhiên hoặc trong môi trường cấy nghèo chất dinh dưỡng ủ ở 250C chúng lại phát triển thành vi nấm sợi tơ như trường hợp của Histoplasma capsulatum, Penicillium marneffei, Sporothrix schenckii…

Vi nấm nhị độ thường là những vi nấm gây bệnh.

Hiện tượng biến hình (pleomorphism)

Trong một số điều kiện như khi cấy truyền nhiều lần để giữ chủng, vi nấm mất khả năng sinh bào tử. khúm nấm chỉ còn lại thể tơ nấm do đó rất khó nhận dạng. Ví dụ trường hợp của Epidermophyton floccosum..

3. VAI TRÒ Y HỌC CỦA NẤM

Bên cạnh những ứng dụng và tác hại của nấm trong công nghiệp thực phẩm, thú ý, nông nghiệp, nấm cũng giữ vai trò đáng kể trong đời sống con người về mặt y học.

Sản xuất kháng sinh

Một đóng góp vô cùng quan trọng của nấm trong y học là sản xuất kháng sinh dùng điều trị các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn hoặc do vi nấm. Hầu hết các kháng sinh đều có nguồn gốc từ vi nấm. Dựa trên việc nghiên cứu các kháng sinh này, người ta có thể tổng hợp được nhiều kháng sinh khác, cung cấp thêm phương tiện bảo vệ sức khỏe và sinh mạng con người.

Gây bệnh cho người

Nhiễm độc tố của nấm

Các độc tố của nấm có thể gây ngộ độc với nhiều mức độ khác nhau, thậm chí có thể đưa đến tử vong. Tình trạng ngộ độc có thể là :

  • Dị ứng (allergy).
  • Ngộ độc cấp (mycetismus).
  • Ngộ độc mạn (mycotoxinosis).

Bệnh vi nấm (mycosis)

Bệnh vi nấm là tình trạng nhiễm trùng, do vi nấm xâm lấn vào các mô cơ quan và gây ra biểu hiện bệnh lý :

  • Đường xâm nhập của vi nấm vào cơ thể :
  • Nhiễm nấm từ bên ngoài :
  • Các bào tử vi nấm có kích thước rất nhỏ và nhẹ nên chúng hiện diện rất nhiều trong không khí. Vì thế người bị nhiễm vi nấm chủ yếu do hít các bào tử này vào phổi. Từ phổi, hoặc chúng bị thực bào, hoặc gây ra các tổn thương khu trú hoặc phát tán theo đường máu, đường bạch huyết đến các cơ quan khác trong cơ thể tùy theo chức năng miễn dịch của cơ thể.
  • Vi nấm cũng có khả năng xâm nhập qua các vết trầy xước, vết thương ở da, niêm mạc.
  • Nhiễm vi nấm nội sinh : Các vi nấm nội hoại sinh, khi gặp điều kiện thuận lợi có thể phát triển và chuyển sang gây bệnh như nhiễm Candida spp.
  • Ái lực của vi nấm đối với các mô cơ quan : Tùy theo loài, vi nấm có ái lực khác nhau đối với từng cơ quan. Ví dụ :
  • Pityrosporum orbiculare ưa lớp sừng của da.
  • Dermatophytes ưa mô keratin.
  • Sporothrix schenckii ưa mô dưới da
  • Cryptococcus neoformans ưa hệ thần kinh trung ương.
  • Aspergillus spp. ưa phổi.
  • Histoplasma capsulatum, Penicillium marneffei ưa hệ võng nội mô.
  • Các yếu tố dẫn độ của bệnh vi nấm: Nhiều loại vi nấm bình thường không thể xâm nhập vào cơ thể hoặc không gây bệnh hoặc gây bệnh nhẹ nhưng khi có các yếu tố dẫn độ, chúng trở nên gây bệnh hoặc làm cho bệnh nặng hơn. Các yếu tố thuận lợi cho bệnh vi nấm phát triển bao gồm :
  • Yếu tố nội tại :
  • Yếu tố sinh lý :
    • Tuổi : trẻ sơ sinh, người già.
    • Hormone : Tuổi dậy thì, phụ nữ mang thai.
    • Di truyền, cơ địa da nhờn..
  • Yếu tố bệnh lý :
    • Tình trạng suy giảm miễn dịch : Suy dinh dưỡng, lao, tiểu đường, nhiễm HIV, bệnh máu ác tính, ung thư các cơ quan…
    • Di chứng của một số bệnh : Các hang được tạo thành do lao, sarcoidosis, áp-xe.
  • Yếu tố ngọại lai :
  • Thuốc điều trị : Dùng kháng sinh, coticoide dài ngày, thuốc ức chế miễn dịch trong ghép cơ quan, hóa trị liệu trong ung thư…
  • Phẫu thuật hoặc các thủ thuật y khoa như truyền dịch, đặt catheter.
  • Nghề nghiệp : các nghề tiếp xúc với môi trường ẩm ướt…
  • Chích xì ke, chấn thương, mang giày chật, sự ẩm ướt thường xuyên…
  • Các bệnh vi nấm : về mặt lâm sàng, có thể chia thành hai nhóm:
  • Bệnh nấm nông : Sự xâm lấn của vi nấm chỉ khu trú ở lớp sừng thượng bì. Ở Việt Nam thường gặp các bệnh sau đây :
  • Lang ben.
  • Trứng tóc đen.
  • Viêm ống tai ngoài do vi nấm.
  • Viêm giác mạc do vi nấm.
  • Bệnh do vi nấm ngoài da.
  • Bệnh nấm sâu : Vi nấm tấn công xuống mô dưới da hoặc các cơ quan nội tạng.
  • Bệnh do Aspergillus spp.
  • Bệnh do Candida spp.
  • Bệnh do Cryptococcus neoformans.
  • Bệnh do Sporothrix schenckii.
  • Bệnh do Penicillium marneffei.
  • Bệnh do Histoplasma capsulatum.

BS. Nguyễn Ngọc Ánh - BS. Đặng Thị Nga

.
BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS.NGA
0912.444.663
.
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN