Bệnh Nấm Sợi Là Gì Nấm Sợi Có Nguy Hiểm Không

trangchu:h2;top:h3;bottom:h3;trai:h3;phai:h3;TrangDanhMuc:h2;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

BỆNH NẤM SỢI ASPERGILLUS SPP

benhgiunsan.com Aspergillus là một nấm sợi hoại sinh trong tự niên nhưng có thể gây bệnh cho người ở nhiều mức độ khác nhau tùy theo loài, ví trí và thể tạng của bệnh nhân. Các thể nấm sâu được xếp vào nhóm nhiễm trùng cơ hội, ngày càng phổ biến hơn, một phần do sự quan tâm phát hiện của các bác sĩ điều trị, một phần do sự tiến bộ của các kỹ thuật chẩn đoán.

1. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH NẤM SỢI

Bệnh phổ biến khắp nơi trên thế giới, phân bố trên mọi chủng tộc, mọi lức tuổi và ở cả hai phái. Các chủng thường phân lập được từ bệnh nhân là A.fumigatus, A. niger, A.nidulans và A.terreus… Trong tự nhiên, Aspergillus giữ vai trò quan trọng trong việc phân hủy các chất liệu từ thực vật do đó chúng có mặt trong đất, cây cỏ và các chất hữu cơ mục nát.

Bào tử của chúng phát tán trong không khí rất nhiều và là tác nhân gây phiền toái cho các phòng thí nghiệm, thậm chí có thể phát triển được trong các chất sát trùng thông thường. Hầu hết các trường hợp nhiễm vi nấm là do hít các bào tử vào phổi.

Nhiều trận bộc phát nhiễm trùng bệnh viên do Aspergillus đã xảy ra trên các bệnh nhân điều trị giảm bạch cầu trong một bệnh viện đang được sửa chữa. Tuy nhiên, tỉ lệ nhiễm so với sự hiện diện phong phú trong môi trường của vi nấm đã chứng tỏ chất cơ hội của bệnh.

Thật vậy, bệnh hiếm khi xảy ra trên cá thể có miễn dịch bình thường. Tình trạng suy giảm miễn dịch như giảm bạch cầu hạt, nhiễm HIV, lao, điều trị kháng sinh – conticoids kéo dài, sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch, hóa trị liệu ung thư… là kháng yếu tố dẫn dộ thường gặp.

2. TRIỆU CHỨNG BỆNH

Aspergillus có khả năng gây bệnh ở nhiều cơ quan tùy theo đường xâm nhập của vi nấm và tình trạng đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Các tổn thương ở da, giá mạc đều liên quan đến các vết trầy xước trước đó Thể nấm sâu thường khởi đầu bằng việc hít các bào tử nấm vào phổi.

Tuy nhiên, trên cá thể có miễn dịch bình thường, các bào tử này tác động như một dị nguyên hoặc chỉ hình thành các tổn thương khu trú. Ngược lại, trên người suy giảm miễn dịch, mầm bệnh sẽ lan rộng hơn và phát tán vào máu đến các cơ quan khác với tỉ lệ tử vong rất cao.

Chẩn đoán sớm và điều trị thích hợp có ý nghĩa đáng kể trong bảo vệ tính mạng bệnh nhân.

Dị ứng do Aspergillus

Khi hít phải bào tử Aspergillus, có biểu hiện dị ứng có thể xảy ra trên thể tạng dị ứng hoặc bình thường. Đó là kết quả phản ứng miễn dịch (type I, III hoặc IV) đối với kháng nguyên tiết ra từ vi nấm. Mức độ dị ứng thay đổi từ nhẹ như hắt hơi, chảy nước mũi, nước mắt, đến các biểu hiện dạng hen suyễn.

Những triệu chứng thường gặp như : sốt, ho đàm, mệt mỏi, mất cân, khó thở dạng suyễn. Các nút nhày được hình thành trong lòng phế quản có thể gây xẹp phổi. X-quang cho thấy hình ảnh thâm nhiễm một hoặc hai bên phổi, thường ở thùy đỉnh, phì đại hạch rốn phổi và hạch quanh khí quản. Bệnh không nguy hiểm nhưng nếu tiếp xúc lâu dài với dị nguyên, sẽ tiến triển dần đến dãn phế quản và xơ hóa.

Các tổn thương ngườioại biên do Aspergillus

Viêm giác mạc (xem bài viêm giác mạc do vi nấm)

Viêm ống tai ngoài (xem bài viêm ống tai ngoài do vi nấm).

Viêm da nguyên phát

Xảy ra trên cơ địa suy giảm miễn dịch hoặc truyền dịch dài ngày Vi nấm phát triển tại vị trí đặt catheter tạo nên những mảng hồng ban, dần dần lấn sâu hơn thành những tổn thương phù nề, cứng sau đó hoại tử và đóng mài cứng màu đen. Từ tổn thương này, vi nấm có thể phát tán theo đường máy gây viêm da lan tỏa hoặc tấn công các cơ quan nội tạng.

Thể bệnh ở xoang mũi

Gồm các dạng lâm sàng sau :

Viêm xoang mũi cấp tính : Liên quan đến tình trạng suy giảm miễn dịch và có thể lan rộng đến hốc mắt, não, đe dọa tính mạng bệnh nhân. Các triệu chứng của bệnh gồm có sốt, nhức đầu, chảy nước mũi, đau vùng mặt.

U hạt (paranasal aspergillus): Phổ biến ở vùng nhiệt đới, thường do Aspergillus flavus gây ra. Bệnh ít liên quan đến khả năng miễn dịch của cơ thể, diễn tiến chậm với các biểu hiện của viêm xoang mũi mạn tính như nhức đầu, người hẹt mũi.

Viêm xoang mũi dị ứng ngày càng phổ biến hơn.

Thể bệnh ở phổi

Bướu Aspergillus ở phổi (aspergilloma, fungus ball of the lung).

Bệnh thường phát triển trong các phế quản bị dãn; trong các hang cũ do lao hoặc di chứng từ các ổ áp-xe đã lànhoặc di chứng từ các ổ áp-xe đã lành, từ các bướu sarcoid, carcinoma đã ỗ; trong moột bọng kkí thũng… Mặt trong các tổn thương này bị xơ hóa, mất khả năng miễn dịch, do đó tạo thuận lợi cho các “củ nấm” Aspergillus phát triển.

Bướu Aspergillus định vị chủ yếu ở thùy đỉnh hoặc phân thùy đỉnh của thùy dưới. Một số bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng. Ho ra máu gặp trong 60% trường hợó biểu hiện lâm sàng. Ho ra máu gặp trong 60% trường hợp, đôi khi trầm trọng đe dọa tính mạng bệnh nhân.

Các biểu hiện khác cũng có thể xảy ra như sốt không đáp ứng với kháng sinh, ho đàm kéo dài, suy kiệt, sụt cân. X-quang phổi đặc trưng bởi hình ảnh một khối tròn đồng nhất với liềm hơi phía trên. Khối tròn này sẽ di chuyển theo tư thế bệnh nhân.

Bệnh có thể tự giới hạn hoặc kéo dài nhưng ổn định, không xâm lấn nhhu mô phổi. Các trường hợp bội nhiễm gây viêm phổi – phế quản cấp hoặc mạn tính diễn tiến đến suy hô hấp tiến triển cũng được ghi nhận.

Thể viêm phổi cấp tính (acute invasive aspergillosis)

Là thể xâm lân nhu mô phổi của Aspergillus trên người suy giảm miiễn dịch dễn dịch do giảmo giảm bạch cầu, nhiễm HIV, viêm hạt mạn tính, điều trị ức chế miễn dịch trong ghép cơ quan, hóa trị liệu chống ung thư. Hình ảnh lâm sàng tương tự như viêm phổi nặng do vi khuẩn nhưng không đáp ứng với điều trị kháng sinh, đôi khi ho ra máu.

Hình ảnh X-quaư viêm phổi nặng do vi khuẩn nhưng không đáp ứng với điều trị kháng sinh, đôi khi ho ra máu. Hình ảnh X-quang phổi phổi không đặc hiệu. Thể bệnh lan tỏa là một biến chứng có thể gặp nhất là ở não, thận, gan, tim. Tỉ lệ tử vong cao ngay cả trong trường hợp không có những bệnh nền kèm theo.

Viêm phổi mạn tính do Aspergillus

Thường xảy ra ở người già hoặc trung niên có bệnh phổi mạn tính trước đó như lao. Bệnh tiến triển chậm với các biểu hiện sốt, ho đàm, suy kiệt, mất cân. Trên phim phổi, đặc điểm thâm nhiễm tiến triển mạn tính được thể hiện với hoại tử nhu mô phổi thường ở thùy trên phân thùy trên của thùy dưới.

Thể lan tỏa

Thường gặp ở người suy giảm miễn dịch nặng với nguy cơ tử vong rất cao. Vi nấm tấn công nhiều cơ quan não, tim, thận…

3. CHẨN ĐOÁN

Việc chẩn đoán bệnh do Aspergillus trên cá thể suy giảm miễn dịch thường khó khăn vì triệu chứng không đặc trưng và các chẩn đoán huyết thanh học ít giá trị, chủ yếu dựa vào việc tìm thấy vi nấm trong bệnh phẩm.

Chẩn đoán vi nấm học

Bệnh phẩm dịch rửa phế quản, dịch hút khí quản, đàm, máu, mô sinh thiết…

Quan sát trực tiếp

Các bệnh phẩm lỏng được quan sát vơi dung dịch KHO 10% hoặc nhuộm Gram. Khi làm phết ướt, có thể cho thêm một giọt mực Paker sẽ giúp quan sát dễ dàng hơn. Đối với mẫu mô sinh thiết, sau khi xử lý sẽ được nhuộm Haermatoxylin & Eosin, Periodic Acid Schiff hoặc Gomori.

Quan sát dưới kính hiển vi phết ướt, phết nhuộm Gram hoặc tiêu bản mô cho thấy các sợi tơ nấm dài, phân nhánh theo kiểu chia hai, có vách ngăn, trong suốt (đối với phết ướt), đường kính khoảng 4 -5 µm, đôi khi thấy đầu bào đài với các tiểu bào đài và bào tử đính.

Hình ảnh vi nấm học này hiện diện trên các mẫu bệnh phẩm được lấy nhiều lần khác nhau, nhất là trên tiêu bản mô học, và phối hợp với các dữ kiện lâm sàng cho phép chẩn đoán xác định bệnh do Aspergillus. Tuy nhiên, việc định danh chính xác tác nhân gây bệnh phải dựa vào kết quả cấy bệnh phẩm.

Cấy

Bệnh phẩm được cấy trên hai môi trường phân lập đầu tiên Sabouraud dextrose agar có chloramphenicol, ủ ở nhiệt độ phòng và ở 370C. Sau vài ngày, vi nấm phát triển thành khúm có màu sắc thay đổi tùy loài Aspergillus. Dựa vào tốc độ mọc của vi nấm ở hai nhiệt khác nhau để phân biệt vi nấm gây bệnh hay do ngọại nhiễm trong quá trình thao tác bệnh phẩm. Sau đó, vi nấm được cấy truyền lên môi trường Czapek chuẩn của Aspergillus để xác định loài Aspergillus gây bệnh.

Nhiệt độ ủ

Tốc độc mọc

Aspergillus gây bệnh

Aspergillus ngọại nhiễm

Nhiệt độ phòng

Chậm

Nhanh

370C

Nhanh

Chậm

Chẩn đoán miễn dịch

Kỹ thuật miễn dịch khuếch tán, miễn dịch điện di rất giá trị để phát hiện kháng thể kháng Aspergillus trong các trường hợp dị ứng, bướu Aspergillus ở phổi và các thể bệnh xâm lấn ở các bệnh nhân có miễn dịch bình thường.

Tuy nhiên, đối với cơ địa suy giảm miễn dịch có sốt kéo dài không đáp ứng với kháng sinh hoặc có hình ảnh thâm nhiễm phổi, kết quả dương tính của các test này chưa phải là chứng cớ của bệnh nhưng đủ thuyết phục cho việc điều trị đặc hiệu. Ngược lại, khi kết quả âm tính ở các đối tượng này, chưa thể loại trừ được nhiễm Aspergillus vì khả năng sản xuất kháng thể bị hạn c

Việc phát hiện kháng nguyên lưu hành trong máu bằng phản ứng ngưng kết hoặc ELISA cũng được phát triển, tuy nhiên việc lý giải kết quả cần phải liên kết với các dữ kiện lâm sàng và chẩn đoán khác.

4. ĐIỀU TRỊ BỆNH NẤM SỢI

Thể dị ứng

Trường hợp nhẹ không cần điều trị. Đối với các thể nặng, cần phải xác định dị nguyên để giải cảm ứng nhưng rất khó thực hiện, chủ yếu điều trị triệu chứng bằng kháng histamine hay corticosteroids. Tuy nhiên, cần thận trong khi điều trị lâu dài với corticoids. Thuốc dãn phế quản hoặc dẫn lưu lạm thời có thể giúp ngăn ngừa hình thành các nút nhày, nhưng các thuốc kháng nấm không được cho là hữu ích.

Thể u hạt ở xoang

Phẫu thuật cắt bỏ những tổ chức bị tổn thương kèm với dẫn lưu và xông mũi. Bệnh thường tái phát, do đó điều trị kháng nấm sau mổ rất cần thiết để ngăn ngừa tái phát: Itraconazole 200 mg/ngày dùng ít nhất trong 6 tuần. Ở người miễn dịch suy yếu, nền dùng amphotericin B 1 mg/kg/ngày.

Thể bệnh ở phổi

Đối với bướu phổi, phẫu thuật cắt bỏ được chỉ định kho ho ra máu trầm trọng và tái đi tái lại nhiều lần. Thường phải cắt bỏ toàn bộ thùy phổi khi chức năng hô hấp cho phép, nhưng đôi khi cắt bỏ phân thùy hoặc bóc tách bướu cũng cho kết quả tốt. Trường hợp chống chỉ định can thiệp ngọai khóc, có thể truyền Amphotericin B liều 10 – 20mg trong 10 – 20 ml nước cất x 2 – 3 lần/tuần trong 6 tuần.

Viêm phổi mạn tính : Bước đầu điều trị kháng nấm với amphotericin, sau đó phẫu thuật cắt bỏ các mô hoại tử và các tổ chức thâm nhiễm xung quanh.

5. DỰ PHÒNG

Giải cảm ứng khi xác định d dị nguyên.

Tránh lạm dụng kháng sinh, cortioides.

Khi có sửa chữa kiến trúc trong bệnh viện, cần phải phun ướt kiến trúc trước khi phá hủy, phun khử trùng không khí hoặc đất bằng các hóa chất tiết trùng hiệu quả như enilconazole…

BS. Nguyễn Ngọc Ánh (St)

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KST SÀI GÒN
CHUYÊN GIA VỀ NGỨA VÀ GIUN SÁN
Địa chỉ: 402 An Dương Vương, P.4, Q.5, TP. HCM
ĐT. 028 38 30 23 45 - Lịch khám bệnh - Xem bản đồ

TIN LIÊN QUAN

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

Tìm Kiếm

Từ khóa:

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
.
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS. ÁNH
0912171177
Hoặc Tổng đài: 0281080
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

Thong ke hom nay Hôm nay 2332
Thong ke hom qua Hôm qua 2633
Thong ke tuan nay Tuần này 7973
Thong ke tuan truoc Tuần trước 20464
Thong ke thang nay Tháng này 34044
Thong ke thang truoc Tháng trước 97840
Thong ke toan bo Toàn bộ 4243904

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN