Chần đoán và điều trị bệnh sốt rét

trangchu:h2;top:h3;bottom:h3;trai:h3;phai:h3;TrangDanhMuc:h2;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH SỐT RÉT

Chẩn đoán xác định

Dựa vào ba yếu tố : Dịch tễ, triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm.

  • Dịch tễ : Đang sinh sống hoặc vào vùng sốt rét lưu hành trong vòng 1 tháng hoặc có tiền sử sốt rét 2 năm gần đây.
  • Triệu chứng lâm sàng : Thể thông thường (sốt rét cơn), thể nặng và có biến chứng (sốt rét ác tính). Thường không đặc hiệu cho bệnh sốt rét.
  • Xét nghiệm : Tìm sự hiện diện của ký sinh trùng sốt rét trong máu.

Chẩn đoán phân biệt

* Sốt rét cơn : trường hợp kết quả tìm ký sinh trùng sốt rét âm tính, cân phân biệt với sốt do các nguyên nhân khác như sốt xuất huyết Dengue, sốt thương hàn, sốt mò, cảm cúm, viêm họng, viêm amidan…

* Sốt rét ác tính : trường hợp kết quả tìm ký sinh trùng sốt rét âm tính, cần làm thêm các xét nghiệm khác, khai thác kỹ yếu tố dịch tễ liên quan để tìm các nguyên nhân khác như :

  • Hôn mô do viêm não, viêm màng não, nhiễm khuẩn nặng…
  • Vàng da, vàng mắt do xoắn trùng, nhiễm khuẩn đường mật, viêm gan do virut, tán huyết…
  • Sốc nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết, sốt mò…
  • Suy hô hấp cấp do các nguyên nhân khác…

8. ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc điều trị bệnh sốt rét là điều trị cắt cơn (diệt thể vô tính), chống tái phát (diệt thể ngủ trong gan) và chống lây lan (diệt thể giao bào), kết hợp điều trị đặc hiệu với điều trị triệu chứng, nâng đỡ thể trạng bệnh nhân.

Có nhiều thuốc diệt thể vô tính, nhưng hiện nay do tình hình Plasmodium falciparum đa kháng thuốc và để ngăn chặn hiện tượng kháng thuốc xảy ra. Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng phác đồ phối hợp với artemisinin (hay các dẫn xuất), còn gọi là phác đồ ACT (artemisinin – based combination therapy) để điều trị sốt rét do Plasmodium falciparum. Sau đây là một số phác dồ ACT: artemether + lumefantrine, artesunate + amodiaquine, artesunate + megfloquine, artesunate + sulfadoxine – pryrimethamine, dithydroartemisinin + piperaquine.

Đối với các phác đồ điều trị phối hợp không phải là ACT như quinine + tetracycline/doxycycline/clindamycin thì sử dụng như là phác đồ chọn lựa hàng thứ hai (second-line treatment) nếu có tái phát ký sinh trùng sau khi đã dùng phác đồ ACT nói trên, và dùng cho phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu (quinine + clindamycin) vì khi đó có chống chỉ định dùng artemisinin và các dẫn xuất trong 3 tháng đầu của thai kỳ.

Chloroquine cũng là một thuốc diệt thể vô tính, hiện nay chủ yếu được dùng để điều trị Plasmodium vivax.

Primaquine được sử dụng để làm ung giao bào (không phát triển tiếp được trong muỗi) và để diệt thể ngủ trong gan của Plasmodium vivax, Plasmodium ovale.

Về điều trị bệnh sốt rét tại Việt Nam : xem chuyên đề “Đặc điểm dịch tễ bệnh sốt rét và Chương trình quốc gia phòng chống bệnh sốt rét”.

9. DỰ PHÒNG BỆNH SỐT RÉT

Dự phòng bằng thuốc (hóa dự phòng)

Rất khó dự phòng bệnh sốt rét vì còn tùy vào tình hình kháng thuốc của nơi dự định đến sinh sống, du lịch… mà thuốc uống dự phòng có thể khác nhau. Cần có thông tin về tình hình kháng thuốc, thành phần ký sinh trùng sốt rét (loài nào chiếm ưu thế), mức độ lưu hành bệnh sốt rét của nơi đến… trước khi chọn lựa thuốc uống để dự phòng.

Hiện nay không khuyến khích việc dự phòng bệnh sốt rét cho toàn dân vì sẽ rân hiện tượng kháng thuốc, mà chỉ chủ trương dự phòng cho một số đối tượng đặc biệt như phụ nữ có thai, khách du lịch, người đi vào vùng sốt rét lưu hành có hạn định do công việc…

Tùy theo tình hình kháng thuốc của nơi đến mà có thể dùng một trong các thuốc sau để dự phòng: chloroquine, sulfadoxine-pyrimethamine, mefloquine, proguanil, doxycycline, atovaquone-proguanil.

Riêng tại Việt Nam, không có chỉ định dự phòng bệnh sốt rét bằng thuốc mà thay vào đó là cấp thuốc tự điều trị (xem chuyên đề “Đặc điểm dịch tễ bệnh sốt rét và Chương trình quốc gia phòng chống bệnh sốt rét”).

Vắc xin sốt rét

Các mục tiêu của vắc xin sốt rét

* Giai đoạn trong máu (hồng cấu): Kích thích phản ứng miễn dịch chống lại các protein bề mặt của mảnh trùng, dẫn đến giảm tỷ lệ mắc mới và mức độ nặng của bệnh.

* Giai đoạn ở gan (tiền hồng cầu): Kích thích phản ứng miễn dịch chống lại thoa trùng hay các tế bào gan bị ký sinh, khiến gan không bị ký sinh ngăn phóng thích mảnh trùng từ gan.

* Ngăn sự lây lan truyền bệnh : Kích thích phản ứng miễn dịch chống lại các giao bào, khiến không tạo ra được thoa trùng, do đó cắt đứt con đường truyền bệnh.

Vắc xin RTS, SIAS01

Trong số các vắc xin đang được thử nghiệm, đây là vắc xin có triển vọng nhất. Được nghiên cứu từ hơn 20 năm nay, vắc xin có mục tiêu là giai đoạn ở gan (tiền hồng cầu). Vắc xin chứa một chuỗi polypeptid tương ứng với một phần của protein bề mặt thoa trùng được gắn vào kháng nguyên bề mặt của virut viêm gan B, tạo ra một phân tử lai có tên là RTS. Vắc xin cũng bao gồm một polypeptid tách biệt (S) tương ứng với kháng nguyên bề mặt của virut viêm gan B và chất bổ trợ AS01 để kích thích phản ứng miễn dịch. Kết quả thử nghiệm giai đoạn III (từ tháng 3/2009 đến 1/2011) tại 7 quốc gia Phi Châu với 15.460 trẻ em chia làm 6-12 tuần tuổi và 5-17 tháng tuổi, cho thấy 55,8% trẻ 5-17 tháng tuổi được bảo vệ khỏi mắc sốt rét lần đầu, và 34,8% toàn bộ trẻ được bảo vệ không bị sốt rét nặng.

BS. Nguyễn Ngọc Ánh

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KST SÀI GÒN
CHUYÊN GIA VỀ NGỨA VÀ GIUN SÁN
Địa chỉ: 402 An Dương Vương, P.4, Q.5, TP. HCM
ĐT. 028 38 30 23 45 - Lịch khám bệnh - Xem bản đồ

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS.NGA
0912.444.663
.
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN