LOÀI MUỖI NÀO NGUY HIỂM NHẤT

trangchu:h2;top:h3;bottom:h3;trai:h3;phai:h3;TrangDanhMuc:h2;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

TÌM HIỂU VỀ NHỮNG LOÀI MUỖI NGUY HIỂM

Muỗi tên gọi chung cho các loài thuộc họ Muỗi (Culicidae), bộ Hai cánh (Diptera), lớp Côn trùng (Insecta). Trong họ Culicidae có ba phụ họ: Culicinae, Anophelinae và Toxorhynchitinae.

1. HÌNH THỂ

Con trưởng thành

Cơ thể muỗi chia ra ba phần đầu, ngực, bụng rọ rệt, có hai cánh và ba đôi chân. Kích thước khoảng 5 – 20mm.

Đầu: Mang hai mắt kép, hai ăng-ten 15-16 đốt, hai xúc biện hàm dài hay ngắn tùy theo loài và giống đực, cái. Vòi là bộ phận miệng kiểu chích hút gồm có hai hàm dưới, hai hàm trên, hạ hầu chứa ống tiết nước bọt, môi trên tạo thành ống hút thức ăn, môi dưới tạo thành bao mềm chứa ác bộ phận trên khi muỗi không chích hút.

Ngực : Gồm ba đốt ngực trước, ngực giữa, ngực sau. Mỗi đốt ngực mang một đôi chân. Đốt ngực giữa mang cặp cánh và do cơ cánh phát triển nên đốt ngực giữa cũng phát triển to hơn đốt ngực trước và đốt ngực sau và chiếm hết phần ngực. Cánh muỗi là loại cánh màng được giữ vững nhờ các gân cánh.

Bụng : Gồm 10 đốt nhưng thấy rõ chỉ 8 đốt, các đốt cuối tạo thành bộ phận sinh dục. Các đốt bụng được nối với nhau bởi các màng chitin mỏng xếp lại khi chưa ăn và có thể phình to ra khi muỗi ăn no.

Trứng :

Tùy theo loài muỗi, trứng được đẻ rời rạc từng cái hay thành chùm. Trứng có chiều dài trung bình khoảng 0,5mm và hình dạng, màu sắc khác nhau cho mỗi loại. Muỗi đẻ trứng ở mặt nước, trứn nổi được nhờ sức căng bề mặt hoặc nhờ có phao ở vỏ trứng.

Ấu trùng

Ấu trùng muỗi, còn gọi là bọ gậy, lăng quăng, có bốn giai đoạn với hình dạng giống nhau, chỉ khác về kích thước. Cơ thể ấu trùng cũng chia làm ba phần đầu, ngực, bụng rõ rệt. Đầu hình cầu dẹp mang cấu trúc đơn giản của ăng-ten, xúc biện hàm, mắt kép. Bụng có chín đốt, đốt thứ tám mang bộ phận thở có cấu trúc, hình dạng khác nhau cho từng loài. Giống muỗi Anopheleàm, mắt kép. Bụng có chín đốt, đốt thứ tám mang bộ phận thở có cấu trúc, hình dạng khác nhau cho từng loài. Giống muỗi Anopheles có hai lỗ thở nằm sát mặt lung của đốt bụng thứ tám; có hai lỗ thở nằm sát mặt lung của đốt bụng thứ tám; muỗi thuộc phụ họ Culicinae và Toxorhynchitinae thì bộ phận thở có dạng một ống hình chóp.

Nhộng

Nhộng muỗi, hay gọi là quăng, có dạng giống như dấu hỏi gồm phần đầu-ngực không phân biệt rõ và tám đốt bụng uốn cong. Trong phần đầu – ngực có thể thấy hình dáng của mắt và các bộ phận khác sắp xếp bên trong. Phía mặt lung của đầu ngực có hai ống thở hình loa kèn để thở. Cuối đốt bụng thứ 8 có bộ phận bơi hình mái dầm.

2. CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ SINH THÁI HỌC

Muỗi có chu trình phát triển theo dạng biến thái hoàn toàn và gồm bốn giai đoạn : trứng, ấu trùng, trưởng thành.

Trứng

Muỗi cái đẻ trứng riêng rẽ từng cái, thành đám nổi, kết thành bè nổi trên mặt nước hoặc thành chùm gắn ở mặt dưới tiếp xúc với nước của các loài cây thủy sinh. Muỗi đẻ mỗi lần khoảng 100-400 trứng. Sau 2 – 3 ngày trứng nở ra ấu trùng giai đoạn 1 trong điều kiện thích hợp. Một con muỗi cái có khả năng đẻ từ 800 – 2.500 trứng trong cả đời. Môi trường nước là nơi muỗi cái tìm nơi đẻ trứng phải thích hợp cho sự phát triển, tồn tại của ấu trùng sau này có thể khác nhau cho các loài.

Ấu trùng

Ấu trùng có bốn giai đoạn liên tiếp nhau qua các lần lột xác. Thời gian của giai đoạn ấu trùng trung bình khoảng 8 – 12 ngày nếu điều kiện về dinh dưỡng và nhiệt độ của nước phù hợp. Thời gian sẽ kéo dài hơn nếu trong nước không có thức ăn hay trời lạnh. Ấu trùng rất hoạt động, di động liên tục lên mặt nước để thở hoặc xuống dưới để tìm thức ăn. Ấu trùng ăn các vi sinh vật có kích thước nhỏ hơn kích thước miệng của chúng. Một số ấu trùng của muỗi có kích thước lớn như Toxorhynchites spp,. Culex spp, có thể nuốt ấu trùng của muỗi nhỏ hơn sống cùng trong môi trường của chúng. Ở ấu trùng được lựa chọn từ khi muỗi cái đẻ trứng, do đó môi trường nước rất khác nhau cho mỗi loài và có loài rất hẹp về lựa chọn môi trường nước, có loài lại ít đòi hỏi trong phương diện này. Một số yêu cầu về môi trường nước như nước chảy, nước tù, nước mặn, nước lợ, nước ngọt, nơi có bóng mát, nơi có ánh nắng.v.v…

Ngoài ra các yếu tố về nhiệt độ, độ pH của nước, hệ động thực vật thủy sinh cũng làm tăng them sự đặc trưng của ổ ấu trùng.

Nhộng

Nhộng không ăn vì cơ thể nằm kín trong lớp vỏ có dạng như dấu hỏi. Nhộng thường nằm im trên mặt nước để thở, chỉ khi mặt nước bị khuấy động nhộng mới lặn xuống dưới nhưng sau đó lại trồi lên ngay. Giai đoạn nhộng kéo dài khoảng 1-5 ngày. Cuối giai đoạn này, muỗi trưởng thành chui ra từ vết nứt dọc ở phần lung của ngực. Đây là thời khắc nguy hiểm nhất của muỗi và tỉ lệ chết thường cao.

Muỗi trưởng thành

Muỗi đực ra đời trước muỗi cái khoảng 24 giờ. Muỗi đực hút dịch nhựa cây hoặc dịch ngọt của hoa để sống. Đời sống của muỗi đực rất ngắn, khoảng 2 tuần. Muỗi cái lúc mới nở cũng hút dịch nhựa cây hoặc dịch ngọt của hoa để sống nhưng sau khi giao hợp với muỗi đực, muỗi cái phải tìm mồi hút máu để phát triển trứng. Muỗi cái chỉ giao hợp với muỗi đực một lần trong đời. Sauk hi giao hợp, tinh trùng của muỗi đực được giữ lại trong túi chứa tinh và sẽ được sử dụng dần. Sauk hi hút no máu, muỗi cái phải tìm nơi đậu nghỉ để tiêu hóa máu và phát triển trứng trong khoảng 3 ngày. Sau khi đẻ trứng, muỗi cái lại tìm mồi hút máu và đẻ trứng. Như vậy nhịp đẻ trứng của muỗi trung bình là 3 ngày một lần.

Sự tìm mồi hút máu của muỗi cái đưa đến sự phân bố của muỗi. Sự phân bố của muỗi ban đầu tùy thuộc vào khả năng tư bay của chúng, tuy nhiên khả năng này không làm cho muỗi phát tán đi xa được. Hiện nay do sự phát triển của ngành giao thông vận chuyển nên sự phát tán của muỗi rộng rãi có thể từ châu lục này đến châu lục kia.

Sự tìm mồi hút máu cũng hình thành nên tập quán ưa hút máu của một loại ký chủ nhất định hoặc đa ký chủ. Các loài chỉ ưa hút máu một ký chủ như máu người thì tương đối dễ dàng trong nghiên cứu các mối liên quan đến truyền bệnh trong khi loài ưa hút máu đa ký chủ, trong đó vừa ưa máu người, vừa ưa máu thú sẽ gây khó khan trong việc phát hiện, nghiên cứu đường lây truyền bệnh của muỗi.

Tuổi thọ của muỗi trong thiên nhiên rất khó xác định, khoảng từ 3 tuần đến 3 tháng. Tuổi thọ của muỗi phụ thuộc rất nhiều vào thức ăn, nhiệt độ và độ ẩm môi trường. Muỗi cái sống càng lâu càng nguy hiễm.

Nếu tính bình quân các mầm bệnh tồn tại và phát triển đến giai đoạn có thể gây bệnh trong cơ thể muỗi là 13 – 14 ngày và cho rằng ngay lần hút máu lần đầu tiên muỗi đã nhiễm mầm bệnh và cứ 3 ngày muỗi phải hút máu một lần thì các con muỗi sống đến ngày thứ 15 sẽ trở thành muỗi nguy hiễm vì đã có khả năng truyền bệnh và sau đó cứ cách 3 ngày muỗi lại truyền bệnh một lần khi hút máu cho đến hết cuộc đời của nó.

Sự phát triển mật độ của muỗi phụ thuộc vào yếu tố khí hậu, mùa trong năm. Ở Việt Nam, mật độ muỗi tăng cao vào đầu mùa mưa. Ngoài ra các yếu tố môi trường, mật độ dân cư cũng ảnh hưởng đến mật độ muỗi.

Sự tấn công hút máu của muỗi cũng thay đổi ở mỗ loài: có loài chỉ hút máu ban ngày, ó loài hút máu ban đêm, có loài hút máu trong nhà, có loài hút máu ngoài nhà. Muỗi sau khi hút no máu sẽ tìm nơi đậu nghỉ, có loài hút máu trong nhà và đậu nghỉ trong nhà, có loài hút máu trong nhà nhưng đậu nghỉ ngoài nhà, có loài hút máu ngoài nhà và đậu nghỉ ngoài nhà.

Các đặc tính sinh học và sinh thái của muỗi rất đa dạng do đó trong phòng ngừa những bệnh lây truyền qua muỗi cần phải nghiên cứu thật kỹ các tập tính sinh học và sinh thái của muỗi để đưa ra được các biện pháp an toàn và hiệu quả.

3. PHÂN LOẠI

Họ muỗi Culicidae có ba phụ họ là Toxorhynchitinae, Anopheliae và Culicinae trong đó hai phụ họ Anophelinae và Culicinae có các loài truyền bệnh quan trọng trong y học. Định danh và phân biệt muỗi dựa vào hình thể của ấu trùng con trưởng thành. Hiện nay một số trường hợp có sự giống nhau về hình thể bên ngoài được định danh bằng sinh học phân tử.

Phụ họ Toxorhynchitinae

Chỉ có một giống Toxorhynchities với 66 loài. Muỗi có kích thước lớn, cả con đực và con cái đều không hút máu, vòi dài và cong xuốn dưới. Ấu trùng là loài ăn thịt các ấu trùng muỗi khác sống chung cùng ổ do đó được sử dụng trong biện pháp đấu tranh sinh học để diệt các loại ấu trùng muỗi khác.

Phụ họ Anphelinae

Có ba giống trong phụ họ này : Bironelle Theoblad, Chagasia Cruz, Anopheles Meigen trong đó giống Anopeles quan trọng trong vai trò truyền bệnh.

Con trưởng thành giống Anopheles bụng không có vảy, xúc biện hàm dài tương đương với vòi ở cả đực vài cái, riêng ở con đực đốt cuối xúc biện hàm phình to giống như cái vợt. Phần lớn trên cánh của Anopheles có nhiều vệt đen trên sườn cánh và gân cánh.

Trứng được đẻ rời rạc từng cái, nổi trên mặt nước. Trứng có hình dạng chiếc thuyền hay hnh thoi, hai bên mang hai phao. Nhờ hai phao này giúp trứng nổi trên mặt nước.

Ấu trùng có hai lỗ thở nằm sát mặt lung của đốt bụng thứ tám. Do đó, ấu trùng khi lên mặt nước để thở, cơ thể phải nằm ngang với mặt nước.Ổ ấu trùng thường là nước yên lặng và có nhiều thực vật thủy sinh nổi trên bề mặt như rong, tảo, lá nổi,… Môi trường nước để ấu trùng Anopheles rất đa dạng như nước ngọt, nước mặn, nước lợ.v.v… tùy theo loài của Anopheles.

Muỗi cái Anopheles thường tấn công vào ban đêm, có loài ưa hút máu trong nhà, có loài ưa hút máu ngoài nhà. Sinh thái của muỗi Anopheles thích hợp vùng có nhiều cây cối, rừng rậm. Nơi đô thị hóa không phù hợp cho Anopheles phát triển. Muỗi Anopheles là vectơ duy nhất truyền ký sinh trùng sốt rét cho người. Một số loài co thể truyền giun chỉ bạch huyết cho người.

Phụ họ Culicinae

Muỗi thuộc họ này có vẩy ở bụng. Xúc biện hàm của con cái ngắn hơn vòi nhiều trong khi con đực có xúc biện hàm dài tương đương với vòi nhưng đốt cuối không phình to. Phụ họ Culicinae có 29 giống nhưng trong đó cỉ có ba giống là vecto quan trọng truyền bệnh cho người là Aedes, Culex và Mansonia.

Giống Aedes có khoảng 36 giống phụ và hơn 800 loài trên thế giới. một số muỗi trưởng thành thường có màu đen hay nâu sậm, có nhiều đám vảy trắng ở phần hông và phần lưng của ngực. Chân thường có các khoang trắng tại các đốt. Trứng được đẻ rời rạc từng cái trên mặt nước, có hình thoi, màu đen hoặc màu nâu sẫm. Ấu trùng có ống trở hình chop ở đốt bụng thứ tám. Do đó, khi ấu trùng lên mặt nước để thở, ống thở tiếp giáp với mặt nước và phần đầu chúc xuống dưới nên nhìn cơ thể ấu trùng giống như bị treo lơ lửng dưới mặt nước. Đa số muỗi Aedes đẻ trứng ở nơi nước sạch như nước mưa, ổ đẻ là những vật chứa nước mưa ngoài trời hay vật chứa nước trong nhà. Chỉ một số loài Aedes đóng vai trò vecto truyền bệnh do arbovius hay giun chỉ bạch huyết cho người.

Giống Culex có gần 800 loài trên thế giới. Trứng có hình trụ được đẻ kết dín thành bè, nổi trên mặt nước nhờ có phao nhỏ ở một đầu trứng. Ổ đẻ có thể là đầm nước có nhiều chất hữu cơ, cống rãnh. Một số loài Culex là vecto truyền bệnh arbobirus và giun chỉ bạch huyết.

Giống Mansonia có 25 loài. Muỗi đẻ trứng có hình gai nhọn dính thành chùm ở mặt dưới lá các cây sống dưới nước như bèo cái Pistia stratiotes, bèo tai chuột hay còn gọi là bèo tổ ong Salvinia cuculata, lục bình Eichhrnia crassipes. Ấu trùng và nhộng có ống thở chitin hóa cứng, có dạng gai nhọn cắm vào rễ các cây sống dưới nước kể trên để lấy dưỡng khí, Mansonia là vecto truyền bệnh giun chỉ cho người.

BS. Nguyễn Ngọc Ánh (St)

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KST SÀI GÒN
CHUYÊN GIA VỀ NGỨA VÀ GIUN SÁN
Địa chỉ: 402 An Dương Vương, P.4, Q.5, TP. HCM
ĐT. 028 38 30 23 45 - Lịch khám bệnh - Xem bản đồ

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS.NGA
0912.444.663
.
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN