TRỊ BỆNH NẤM DA LÂU NGÀY Ở ĐÂU

trangchu:h2;top:h3;bottom:h3;trai:h3;phai:h3;TrangDanhMuc:h2;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VI NẤM NGOÀI DA

benhgiunsan.com Chẩn đoán xét nghiệm để xác định môi trường hợp nhiễm vi nấm ngoài da cần phải được thực hiện khi điều trị cho bệnh nhân. Điều này rất quan trọng vì : i) thời gian điều trị kéo dài; ii) chi phí điều trị cao; iii) các tác dụng phụ của thuốc khi dùng dài ngày. Do đó, điều trị trong trường hợp không bệnh sẽ đem đến cho bệnh nhân nhiều tốn kém và phiền toái.

Việc quan sát thấy sợi tơ nấm và các bào tử đốt trên các phết ướt bệnh phẩm đủ để chẩn đoán nhiễm vi nấm ngoài da nhưng không cho phép định danh chính xác tác nhân gây bệnh trừ trường hợp nấm tóc. Trong khi việc xác định nguồn nhiễm có ý nghĩa quan trọng về dịch tễ học và hỗ trợ cho sự lựa chọn một chế độ điều trị thích hợp. Vì vậy, xét nghiệm trực tiếp và cấy bệnh phẩm nên được tiến hành đồng thời trong mọi trường hợp.

Lấy bệnh phẩm

Trong số các bệnh phẩm thu thập từ các tổn thương nghi ngờ do nhiễm vi nấm ngoài da, khoảng 50% mẫu không tìm thấy vi nấm. Do đó phải đảm bảo đúng nguyên tắc và kỹ thuật thu thập bệnh phẩm để kết quả xét nghiệm được chính xác.

Nguyên tắc

Bệnh nhân không được dùng thuốc kháng nấm trong vòng 7 – 10 ngày trước khi lấy bệnh phẩm xét nghiệm.

Thu thập bệnh phẩm từ nhiều tổn thương khác nhau và ở nhiều vị trí khác nhau trên cùng một sang thương vì vi nấm phân bố không đồng đều trên các tổn thương.

Kỹ thuật thu thập bệnh phẩm

Tẩy sạch vùng tổn thương bằng cồn 70% trước khi lấy bệnh phẩm để loại bỏ các mảnh dơ, vi trùng và các chất hóa dược do bệnh nhân thoa lên.

Bệnh phẩm thu thập phải được bảo quản trong điều kiện khô ráo để tránh sự phát triển của vi trùng và nấm mốc.

Loại bệnh phẩm sẽ thay đổi tùy theo thể bệnh lâm sàng.

  • Nấm tóc, nấm má : Nhổ lấy chân những sợi râu, sợi tóc bị cong, mất bóng, đứt ngang hoặc phát huỳnh quang dưới ánh đèn Wood. Quan sát trực tiếp sợi râu, sợi tóc bệnh có thể xác định được nhóm của những loài vi nấm ký sinh, nhưng để định danh chính xác vi nấm đòi hỏi phải cấy định danh.
  • Viêm da do vi nấm : Cao lấy vẩy da ở ngọai vi sang thương bằng lam kính hoặc lưỡi dao mổ không còn sắc bén.
  • Nấm móng : Nên thu thập bệnh phẩm ở phần móng bị đổi màu hoặc bị loạn dưỡng. Đối với thể nấm móng bờ xa, cắt bỏ phần bờ xa của móng và lấy càng vào trong càng tốt, đồng thời thu thập thêm lớp sừng lùi xùi dưới móng. Trường hợp nấm móng bờ gần, dùng mũi khoan nhỏ hoặc dao mổ để lấy phần móng sâu bên dưới. Bột móng được thu thập trên bề mặt móng trong thể nấm móng đốm trắng.

Quan sát trực tiếp

Làm phết ướt bệnh phẩm với dung dịch KOH 10% hoặc 20% và quan sát dưới kính hiển vi để phát hiện vi nấm.

Bệnh phẩm da hoặc móng

Quan sát bằng vật kính x 10 hoặc x 40 sẽ thấy trên nền tế bào biểu bì của da hoặc móng xuất hiện những sợi tơ nấm mảnh, phân nhánh, có vách ngăn và nhiều bào tử đốt. Có thể lặp lại xét nghiệm nhiều lần khi âm tính hoặc trên lâm sàng chưa loại trừ được tác nhân vi nấm ngoài da.

Bệnh phẩm là râu,tóc

Sợi râu tóc bị vi nấm ký sinh theo năm kiểu sau tùy theo tác nhân gây bệnh

Phát nội kiểu cổ điển.

  • Phát nội kiểu lõm chén.
  • Phát ngoại – nội kiểu microsporique.
  • Phát ngoại – nội kiểu trichophytique.

Trong chẩn đoán bệnh do vi nấm ngoài da, cấy là phương pháp đáng tin cậy hơn quan sát trực tiếp vì cho phép xác định loài vi nấm gây bệnh, do đó sẽ cung cấp thông tin về nguồn nhiễm và những hiểu biết về nguồn nhiễm sẽ hỗ trợ rất nhiều trong điều trị.

Vi nấm ngoài da đề kháng tốt với một số khang sinh kháng khuẩn thông thường như chloramphenicol, gentamycine,penicillin , streptomycin… và với kháng sinh kháng nấm cycloheximid (actidione), vì vậy khi cấy bệnh phẩm để phân lập vi nấm ngoài da, cần pha các kháng sinh này vào canh cấy để ức chế sự phát triển của vi khuẩn cũng như vi nấm ngọại nhiễm từ môi trường bên ngoài.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, một số nấm mốc (Scytalidium, Scopulariopsis, Aspergillus, Aspergillus, Acremonium, Fusarium…) có thể là tác nhân của viêm móng và trên lâm sàng khó phân biệt với nhiễm vi nấm ngoài da. Do đó, nên thông báo với phòng xét nghiệm những trường hợp nghi ngờ nhiễm nấm mốc để cấy trên hai môi trường có và không có cycloheximid.

Việc phân lập vi nấm từ bệnh phẩm bắt đầu bằng môi trường Sabouraud chloramphenicol cycloheximid ủ ở nhiệt độ phòng.

Mỗi bệnh phẩm nên cấy vào hai ống môi trường. Sau 2–3 tuần, đôi khi 1–1,5 tháng, vi nấm phát triển thành khúm. Quan sát đại thể và vi thể khúm nấm sẽ cho phép định danh vi nấm. Một số trường hợp phải thực hiện thêm các thử nghiệm sinh học để xác định chính xác hơn

  • Cấy lên môi trường cơm để phân biệt M.canis với M.audouinii.
  • Dùng thử nghiệm xuyên tóc (hair penetrationtest), môi trường urea, môi trường thạch khoai đường để phân biệt T.mentagrophytes và T.rubrum.
  • Cấy lên môi trường Trichophyton số 1 – 7 để xác định T.concentricum, T.tonsurans.

Phân biệt các giống vi nấm ngoài da.

Vi nấm ngoài da là vi nấm sợi tơ được cấu tạo bởi những sợi tơ nấm mảnh, có vách ngăn. Ngoài ra, một số loài có cấu trúc đặc biệt như sợi nấm hình vợt, hình lược, hình sừng nai,…là những đặc điểm trọng để định danh. Đa số đều sinh bào tử đính (microconidia). Có thể phân biệt các giống vi nấm ngoài da dựa trên các đặc điểm của bào tử đính lớn như phân loại của C.W Emmons

4. ĐIỀU TRỊ BỆNH VI NẤM NGOÀI DA

Nguyên tắc

  • Điều trị tại chỗ đối với nấm da, điều trị toàn thân trong trường hợp nấm da lan tỏa, choc đầu và nấm móng.
  • Khi dùng thuốc thoa, nên thoa rộng ra xung quanh sang thương khoảng 3 cm và khi sang thương biến mất nên duy trì thêm 1 – 3 tuần để tránh tái phát.
  • Phối hợp – 3 tuần để tránh tái phát.
  • Phối hợp khángg sinh khi bội sinh khi bội nhiễm vi trùng.
  • Trường hợp tổn thương ở da ít và khu trú, có thể thoa một trong các thuốc sau :
  • Dung dịch BSI (acid benzoic, acid salicylic và iode 1 – 3g mỗi thứ trong 100ml rượu 700).
  • Dung dịch ASA (1 g aspirin, 8g Na salicylate, 100ml rượu 700).
  • Dung dịch rượu iode 2%.
  • Dung dịch ASA (1g aspirin, 8g Na salicylate, 100 ml rượu 700).
  • Thuốc mỡ Whitfield (acid benzoic 6g, acid salicylic 3g, vaselin 100g).
  • Nizoral, Lamisil, Asterol, Fongeryl, Jadit, Pimafucine, Daktarin, Sterosan, Fazol…
  • Khi tổn thương da lan tỏa, mạn tính hoặ tổn thương ở tóc, điều trị toàn thân trong nhiều tuần với griseofulvine, terbinafine hoặc itraconazole sẽ giúp khỏi bệnh nhanh hơn. Griseofulvine hấp thu tốt trong môi trường nhiều chất béo, do đó nên dùng sau bữa ăn.
  • Đối với nấm móng, dùng nhịp trị liệu với itraconazole 200 mg/ngày hoặc 400mg/ngày rất hiệu quả, uống thuốc 1 tuần, nghỉ 3 tuần trong mỗi nhịp (1 tháng).
  • Nấm móng tay : Ba nhịp.
  • Nấm móng chân : Bốn nhịp

5. DỰ PHÒNG BỆNH VI NẤM NGOÀI DA

Không dùng chung lược, nón, khăn lau, quần áo với người bệnh.

Khám và điều trị cho thú nuôi trong nhà bị rụng lông bất thường.

Dùng bột talc có acid undecylenic rắc vào giày khi phải mang giày suốt ngày và chân hay đổ mồ hôi.

BS. Nguyễn Ngọc Ánh

.

TIN LIÊN QUAN

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

Tìm Kiếm

Từ khóa:

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
.
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS. ÁNH
0912171177
Hoặc Tổng đài: 0281080
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

Thong ke hom nay Hôm nay 1086
Thong ke hom qua Hôm qua 2858
Thong ke tuan nay Tuần này 6924
Thong ke tuan truoc Tuần trước 23902
Thong ke thang nay Tháng này 70890
Thong ke thang truoc Tháng trước 129644
Thong ke toan bo Toàn bộ 4182911

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN