Hiệu quả trị bệnh giun sán phòng khám Quốc tế Ánh Nga

trangchu:h2;top:h1;bottom:h1;trai:h1;phai:h1;TrangDanhMuc:h1;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

3. KẾT QUẢ

.

3.1. Kết quả mẫu nghiên cứu

Bảng 2. Tỷ lệ thu được mẫu phân theo khối lớp

Khối lớp

Thu được mẫu phân

Số học sinh

(%)

Không(%)

Khối 1

135 (74,6%)

46 (25,4%)

181

Khối 2

155 (83,3%)

31 (16,7%)

186

Khối 3

146 (88,5%)

19 (11,5%)

165

Khối 4

166 (79,0%)

44 (21,0%)

210

Khối 5

107 (60,0%)

71 (40,0%)

178

Tổng

709 (77,1%)

211 (22,9%)

920

.

Tỷ lệ thu được mẫu phân đạt khá cao 77,1%

Bảng 3.Tỷ lệ xét nghiệm dương tính với trứng giun

Khối lớp

Kết quả xét nghiệm

Số xét nghiệm

Dương tính (%)

Âm tính(%)

Khối 1

9 (6,7%)

126 (93,3%)

135

Khối 2

5 (3,2%)

150 (96,7%)

155

Khối 3

8 (5,5%)

138 (94,5%)

146

Khối 4

21 (12,7%)

145 (87,3%)

166

Khối 5

12 (11,2%)

95 (88,8%)

107

Tổng

55 (7,8%)

654 (92,2%)

709

.

Bảng 4.Tỷ lệ nhiễm từng loại giun

Nhiễm

Kết quả xét nghiệm

Số xét nghiệm

Dương tính (%)

Âm tính(%)

Giunđũa

8 (1,1%)

701 (98,9%)

709

Giuntóc

4 (0,6%)

705 (99,4%)

709

Giunmóc

42 (5,9%)

667 (94,1%)

709

.

Nhận xét: Giun móc chiếm đa số các trường hợp (77,8%), đến giun đũa (14,8%), giun tóc (7,4%). Ngoài ra còn phát hiện được 1 trường hợp nhiễm giunkim (0,14%).

.

3.2. Tỷ lệ đơn nhiễm và đa nhiễm

.

Trong 55 trường hợp xét nghiệm thấy trứng giun trong phân đều là đơn nhiễm.

.

Bảng 5. Cường độ nhiễm trứng giun (số trứng giun /g phân - epg)

Nhiễm

Số trườnghợp

Epg tối thiểu

Epg tối đa

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Giun đũa

8

24

48

33,00

11,62

Giun tóc

4

24

168

60,00

62,35

Giun móc

42

24

9384

383,86

743,88

.

Bảng 6.Mức độ nhiễm cho từng loại giun (số trường hợp)

Giun

Nhiễm nhẹ

Nhiễm vừa

Nhiễm nặng

Tổng

Đũa

8

00

00

8

Tóc

4

00

00

4

Móc

41

00

01

42

.

- Các trường hợp nhiễm giun chủ yếu là nhiễm nhẹ (98,1%).

- Một trường hợp nhiễm nặng với giun móc chiếm 1,9%

.

3.3. So sánh kết quả trước và sau điều trị

.

Bảng7. Kết quả xét nghiệm lại sau khi điều trị 02 tuần (ở các trường hợp dương tính lần đầu với giun đũa, giun tóc và giun móc)

Nhiễm

Trước điều trị

Sau điều trị 14 ngày

Tỷ lệ sạch trứng

(CR) %

Số trường hợp (+)

Số trường hợp (+)

Giunđũa

8

00

100,0

Giuntóc

4

00

100,0

Giunmóc

42

01

98,00

Tổng

54

01

.

Nhậnxét: Tỷ lệ sạch trứng (cure rate - CR) trên, tác dụng của albendazole là rất tốt đối với giun đũa, giun tóc, giun móc. 1 trường hợp nhiễm giun kim được phát hiện, sau khi cho uống thuốc và xét nghiệm lại thì không thấy trứng giun kim nữa, nhưng không tính tỷ lệ sạch trứng của albendazole đối với giun kim vì kỹ thuật Kato-Katz không thích hợp để phát hiện trứng giun kim.

.

Bảng 8. Số trứng giun trung bình/g phân (epg) ở các trường hợp chưa sạch trứng

Nhiễm

Epg trước

điều trị

Epg sau điều trị

Tỷ lệ giảm

trứng (ERR) %

Giun móc

744

120

83,90

.

4. BÀN LUẬN

.

Tỷ lệ thu được mẫu phân tương đối cao (77%). Do có sự chuẩn bị tốt về công tác triển khai thực hiện đề tài, tuyên truyền, đặc biệt là có sự phối tốt giữa y tế, nhà trường và phụ huynh học sinh, các thầy cô giáo đã nhiệt tình phối hợp với đoàn nghiên cứu, triển khai thực hiện đúng tiến độ đề tài do đó công việc nghiên cứu đã diễn ra như mong muốn.

Với 709 mẫu xét nghiệm, tỷ lệ dương tính với trứng giun là 7,8%, thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ 37,9% của điều tra toàn quốc năm 2006 của các Viện SR-KST-CT trung ương và khu vực [1]. Có thể do sau thời điểm này, việc điều trị định kỳ hàng năm cho các học sinh tiểu học được tiến hành rộng rãi nên đã góp phần hạ tỷ lệ nhiễm giun ở các đối tượng này.

Trong số các loại giun phát hiện, giun móc chiếm đa số (77,8%), kế đến là giun đũa (14,8%), giun tóc 7,4%. So với các khảo sát trước đây tại các tỉnh thuộc khu vực phía Nam là thứ tự các loài giun bị nhiễm nhiều là giun móc, giun tóc, và sau cùng là giun đũa. Tuy nhiên tại khảo sát này tỷ lệ nhiễm giun đũa đứng thứ 2 sau giun móc.

Trong 55 trường hợp xét nghiệm thấy trứng giun trong phân đều là đơn nhiễm. Tuy nhiên vì nhiễm giun móc chiếm đa số, kế đến là nhiễm giun đũa, là hai loài giun gây thiếu máu, thiếu chất dinh dưỡng nên hậu quả của nhiễm giun cũng nặng nề hơn.

Đa số các trường hợp dương tính có cường độ nhiễm nhẹ (98,1%), thể hiện qua số trứng giun trung bình trong một gram phân, nhưng không vì thế mà coi nhẹ tình hình nhiễm, vì số lượng trứng giun/g phân không phản ảnh trung thực mức độ nhiễm do chỉ có giun cái mới đẻ trứng và đẻ không đều, những con giun đực có mặt và không phát hiện được cũng gây tác hại không kém.

Tác dụng của thuốc, thể hiện qua tỷ lệ làm sạch trứng giun là rất tốt đối với đối với tất cả các loài giun trên. Phát hiện của nghiên cứu này cũng phù hợp với các đánh giá trong y văn. Đối với 01 trường hợp chưa sạch trứng giun, thì tỷ lệ giảm trứng giun do tác dụng của thuốc là rất cao (83,90%). Như vậy, dù không khỏi bệnh thì tác hại của việc nhiễm giun cũng đã giảm nhẹ rất nhiều. Phác đồ điều trị dùng là ba viên mỗi ngày uống 1 viên trong ba ngày liên tiếp (đối với giun móc, giun tóc) tác dụng của thuốc cao hơn so với phác đồ điều trị 1 ngày.

.

5. KẾT LUẬN

.

- Qua nghiên cứu này, tỷ lệ nhiễm giun của các học sinh tiểu học ở Tân Thủy, Ba Tri, Bến Tre là thấp, cường độ nhiễm nhẹ. Nhưng vì nhiễm giun móc chiếm đa số (77,8%);

- Tác dụng của Albendazole 400 mg liều dùng ba viên, mỗi ngày uống 1 viên trong ba ngày liên tiếp (đối với giun móc). Đã đáp ứng điều trị tốt với tất cả các loài giun trên. Một trường hợp chưa sạch trứng giun thì số lượng trứng cũng đã giảm rất nhiều dưới tác dụng của thuốc.

- Nghiên cứu này cho thấy phác đồ điều trị theo ca bệnh mang lại hiệu quả và ít tốn kém so với điều trị cộng đồng. Điều này cũng phù hợp với khuyến cáo của WHO những vùng có tỷ lệ nhiễm < 30% nên điều trị theo ca bệnh.

.

Previous ..

.

.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Mạnh Hùng, Đỗ Trung Dũng. Viện Sốt rét-KST-CT TƯ (2011), Hội nghị tổng kết công tác PCSR và giun sán 2006-2010, triển khai kế hoạch năm 2011,HàNội, tr 8-9.

2. S. Geerts and Gryseels (2000), “Drug Resistance in Human Helminths: Current Situation and Lessons from Livestock”,Clinical Microbiology Reviews, Apr. 2000, p. 207-222.

3. S. Geerts and B. Gryseels (2001), “Anthelmintic resistance in human helminths: a review”,Tropical Medicine and International Health,Vol 6 no. 11: 915-921, Nov 2001.

4. J. Horton (2000), “Albendazole: a review of anthelminthic efficacy and safety in humans”, Parasitology, 121: 113 –132.

5. World Health Organization (1996), Report of the WHO informal consultation on the use of chemotherapy for the control of morbidity due to soil-transmitted nematodes in humans. WHO/CTD/SIP/96.2. 29 April to 1 May 1996.

6. World Health Organization (1999), Report of the WHO informal consultation on monitoring of drug efficacy in the control of schistosomiasis and intestinal nematodes. WHO/CDS/CPC/SIP/99.1. 8-10 July 1998.

7. World Health Organization (2002), Prevention and control of schistosomiasis and soil-transmitted helminthiasis: report of a WHO expert committee.WHO, 2002.

.

.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Bệnh sán chó có nguy hiểm không?
Đêm nằm ngủ sờ thấy đốt sán ở hậu môn
Dấu hiệu nào để nhận biết bệnh giun sán?
Dấu hiệu nhận biết bệnh giun lươn
Tại sao nhiễm giun sán lại bị ngứa da?

.

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KST SÀI GÒN
CHUYÊN GIA VỀ NGỨA VÀ GIUN SÁN
Địa chỉ: 402 An Dương Vương, P.4, Q.5, TP. HCM
ĐT. 028 38 30 23 45 - Lịch khám bệnh - Xem bản đồ
BS tư vấn:​ BS. Nga. 0912 444 663 - BS. Ánh 0912 171 177

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS.NGA
0912.444.663
.
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN