KÝ SINH TRÙNG GIUN SÁN Ở NGƯỜI

trangchu:h2;top:h1;bottom:h1;trai:h1;phai:h1;TrangDanhMuc:h1;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

Bảng 6: Bệnh nhân tìm đến Phòng khám theo thông tin.

STT

Nguồn thông tin

Số người

Tỷ lệ %

1

Internet

110

55,0

3

Người khác giới thiệu

90

45,0

Nhận xét:Với 55,0% bệnh nhân tìm đến Phòng khám theo nguồn Internet cho thấy số bệnh nhân chủ yếu biết đến PK là đối tượng có kiến thức khai thác các trang mạng xã hội, trực tiếp hoặc gián tiếp được tiếp xúc với Internet. Số còn lại do các y bác sỹ…trong ngành y giới thiệu tới điều trị.

Bảng 7: Hiểu biết về bệnh KST

STT

Nội dung nhận thức

Số người nhận thức đúng

Tỷ lệ %

1

Biết tên một trong những loại KST gây bệnh cho người

168

84

2

Biết tác hại KST gây bệnh cho người

46

23

3

Biết nguyên nhân KTS gây bệnh cho người

112

56

Nhận xét:Người bệnh biết tên 1 vài con giun sán đạt tỷ lệ cao, bên cạnh đó cũng có 16,3% số người mắc bệnh không kể tên được loài KST nào. Và biết 1 đến 2 tác hại do nó gây ra cũng như 1 đến 2 nguyên nhân nó gây bệnh cho người. Đa số họ không nắm được đầy đủ những thông tin của bệnh KST.

Bảng 8: Thực hành phòng chống các bệnh do KST

STT

Nội dung thực hành

Số người thực hành đúng

Tỷ lệ %

1

Biết cách phòng chống đúng

58

29,0

2

Có tẩy giun định kỳ

188

94,0

3

Biết rửa rau, đồ ăn đúng

110

55,0

4

Có đi dép khi tiếp xúc với đất

198

99,0

Nhận xét: Đối tượng trong nghiên cứu có 29% số người biết thực hành tốt việc phòng chống bệnh KST, ý thức tẩy giun định kỳ đạt tỷ lệ cao 93.7%. Nhưng vẫn còn nhiều người chưa biết phòng chống bệnh đúng.

5. BÀN LUẬN

5.1.Về yếu tố dịch tễ

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy số bệnh nhân nhiễm KST tìm đến Phòng khám điều trị với số lượng ít, chủ yếu là tầng lớp người có trình độ, những người sinh sống quanh thành phố, những người biết khai thác Internet. Điều đó không có nghĩa là người dân thành phố mắc bệnh nhiều hơn nông thôn. Người bệnh ở các tỉnh được cán bộ y tế giới thiệu đến hoặc từ các bệnh viện khác chuyển về.

5.2.Về triệu chứng lâm sàng

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy hầu hết người nhiễm bệnh KST tìm đến PK điều trị đều có triệu chứng ngứa 67-100% và nổi mề đay chiếm từ 31% đến 100%. Riêng nhiễm sán dây, biểu hiện chính của nguời bệnh là có đốt sán bò ra ngoài hậu môn chiếm tỷ lệ 100%.Và nhiễm amip đường ruột hiểu hiện chính của người bệnh là đau bụng, đi ngoài phân lỏng hoặc táo từng đợt chiếm 94%. Ngoài ra các triệu chứng khác chủ yếu biểu hiện của rối loạn tiêu hóa (đau bụng, kém ăn, vàng da…chiếm tỷ lệ thấp).

5.3.Về triệu chứng cận lâm sàng

Trong nghiên cứu 200 bệnh nhân nhiễm giun, sán, đơn bào có tỷ lệ bệnh nhân tăng BCAT thấp nhất là 0% và cao nhất gặp trong bệnh sán lá gan lớn là 28.6%. Thực tế người bệnh đến điều trị đa số là người dân nhiễm bệnh từ lâu, đã đi chữa bệnh ở nhiều nơi không khỏi, nên cơ thể đã có sự thích nghi. Chính vì vậy với nghiên cứu này cho kết quả khác với các nghiên cứu đã tham khảo(3). Bệnh ấu trùng giun đũa chó: BCAT tăng chiếm 20.4%. Bệnh giun đũa, giun móc, giun đầu gai, giun lươn: BCAT không tăng. Bệnh sán gạo heo: BCAT tăng 12.3%. Bệnh Sán dây BCAT tăng 14.3%. Bệnh Sán lá gan lớn BCAT tăng 28.6%. Bệnh amip đường ruột BCAT tăng 19.2%. Siêu âm có hình ảnh tổn thương gan trong nhiễm sán lá gan lớn 60%. Chẩn đoán huyết thanh dương tính với bệnh: ấu trùng giun đũa chó, sán lá gan lớn, giun lươn, giun đầu gai, ấu trùng sán lợn.

5.4.Về điều trị

Sau điều trị các triệu chứng của bệnh giảm đáng kể, với các bệnh: giun đũa, giun móc, giun lươn, giun đầu gai, sán dây, amip đường ruột bệnh nhân sau điều trị triệu chứng lâm sàng giảm từ 80-100%, chỉ số BCAT sau điều trị trở về mức bình thường là 100%. Tỷ lệ sạch trứng, khi soi phân ở bệnh giun đũa, giun móc là 100%, tỷ lệ sạch kén amip là 100%.Với bệnh giun lươn, sán lá gan lớn, giun đầu gai, xét nghiệm ELISA trở về âm tính là 100%. Điều trị ấu trùng sán lợn cho tỷ lệ âm tính với ELISA là 98%.Riêng với bệnh giun đũa chó lạc chủ, sau điều trị 73% bệnh nhân hết ngứa, 92% bệnh nhân hết nổi mề đay, 88% bệnh nhân xét nghiệm ELISA trở về âm tính.

5.5. Kiến thức, thực hành của người bệnh

Đối tượng trong nghiên cứu chủ yếu là tầng lớp tri thức, có kiến thức về bệnh cũng như thực hành phòng bệnh tốt.

6. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

6.1. Kết luận:

- Với số ít người tới khám và điều trị bệnh nên chưa kết luận được yếu tố dịch tễ. Trong thời gian tới chũng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu thêm.

- Triệu chứng lâm sàng chính của người nhiễm KST là triệu chứng ngứa chiếm từ 67-100% và nổi mề đay chiếm từ 31% đến 100%. Riêng mắc sán dây đường ruột biểu hiện chính là có đốt sán bò ra ngoài hậu môn 100%, kèm theo triệu chứng về rối loạn tiêu hóa: chán ăn, đau bụng, đi ngoài phân lỏng hoặc táo, vàng da…

- Cận lân sàng: Soi phân trong những bệnh tương ứng tìm thấy trứng giun đũa, giun móc, kén E. Histolytica. Xét nghiệm máu ngoại biên có BCAT tăng, cao nhất là bệnh sán lá gan lớn BCAT tăng 28.6%. Bệnh ấu trùng giun đũa chó: BCAT tăng chiếm 20.4%. Bệnh sán gạo heo: BCAT tăng 12.3%. Bệnh sán dây BCAT tăng 14.3%. Bệnh amip đường ruột BCAT tăng 19.2%. Bệnh giun đũa, giun móc, giun đầu gai, giun lươn: BCAT không tăng. Siêu âm có hình ảnh tổn thương gan trong nhiễm sán lá gan lớn 60%. Chẩn đoán huyết thanh dương tính với bệnh: ấu trùng giun đũa chó, sán lá gan lớn, giun lươn, giun đầu gai, ấu trùng sán lợn.

- Sau điều trị các triệu chứng lâm sàng chính giảm 80-100% và triệu chứng cận lâm sàng giảm từ 88-100%. Riêng với bệnh sán dây 100% bệnh nhân được sổ sán.

Tài liệu tham khảo:

1. Đỗ Trung Dũng (2011), Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất và thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh sản tại một số điểm của Lào, Campuchia và Việt Nam.Công trình khoa học Báo cáo tại hội nghị ký sinh trùng lần thứ 38 Viện Sốt rét-KST-CT TW.Nhà xuất bản Y học Hà Nội 2011, trang 64-75.

2. Nguyễn Mạnh Hùng, Đỗ Trung Dũng (2011), Công tác phòng chống giun sán giai đoạn 2006-2010, phương hướng thực hiện chương trình phòng chống bệnh giun sán 2011-2015.Công trình khoa học Báo cáo tại hội nghị ký sinh trùng lần thứ 38 Viện Sốt rét-KST-CT TW.Nhà xuất bản Y học Hà Nội 2011, trang 7-15.

3. Lê Thị Cẩm Ly, Trần Phủ Mạnh Siêu, Trần Thị Kim Dung, Trần Vinh Hiển (2012), Tìm hiểu một số đặc điểm trong bệnh giun sán phổ biến trên bệnh nhân tăng bạch cầu toan tính tại bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP. HCM từ 2010 đến 2011. Y học thành phố Hồ Chí Minh chuyên đề ký sinh trùng Tập 16 * Số 1* 2012, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, trang 18-23.

BS. Nguyễn Ngọc Ánh

Previous

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS.NGA
0912.444.663
.
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN