XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN

trangchu:h2;top:h1;bottom:h1;trai:h1;phai:h1;TrangDanhMuc:h1;TrangChiTiet:h1;Canonical:;SiteMap:0.1;-cauhinhseo-

.

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CẬN LÂM SÀNG CHUẨN ĐOÁN BỆNH SÁN LÁ GAN

Bệnh sán lá gan lớn thường gặp ở trẻ em và ng­ười trẻ tuổi, bệnh khởi đầu từ từ, đôi khi sốt với thân nhiệt thấp. Triệu chứng chính thư­ờng ho về đêm, khó thở và khò khè nhiều. Một vài dấu chứng co thắt phế quản và thử nghiệm chức năng phổi cho thấy hình ảnh tắc nghẽn phổi.

Nguyên nhân do ăn uống vệ sinh kém

Các xét nghiệm chẩn đoán chính bao gồm:

- Xét nghiệm phân, Công thức máu, chức năng gan

- Xét nghiệm miễn dịch Elisa

- Cận lâm sàng: Xq. Siêu âm...Chỉ thực hiện khi cần thiết

1. Xét nghiệm phân tìm trứng sán và các loại giun sán khác:

Xét nghiệm phân tìm trứng Sán lá gan lớn là một xét nghiệm hữu ích và đặc hiệu nhất, song nó còn tuỳ thuộc nhiều yếu tố, nhất là thời gian diễn tiến bệnh. Thông thường, trong 3-4 tuần đầu sau khi nhiễm, thật khó phát hiện được trứng SLGL trong phân. Cũng chính vì điều này mà trong theo dõi diễn tiến bệnh, chúng ta không nên lấy chỉ tiêu trứng trong phân như một giá trị tiên lượng, khi đó nên đánh giá hiệu giá kháng thể thay đổi thế nào, lâm sàng bệnh nhân có thay đổi không, hình ảnh siêu âm cải thiện như thế nào? Song như trên đã đề cập vì người là vật chủ tình cờ, không phải lúc nào sán cũng nhiễm, phát triển hoàn thiện và trứng được đào thải như khi nhiễm trên các gia súc khác. Do vậy, khi xét nghiệm tìm trứng, chúng ta cần lưu ý đến các vấn đề sau:

+ Người không là vật chủ thích hợp, nên sán không đủ trưởng thành thì không đẻ trứng, nên không tìm thấy trứng trong phân trong phần lớn các ca bệnh.

+ Giai đoạn mới nhiễm hay giai đoạn cấp tính, các triệu chứng lâm sàng rõ nhưng chưa đủ thời gian để sán đẻ trứng và khi đó xét nghiệm phân chưa thấy trứng, thường phải sau 3-4 tháng kể từ khi nhiễm ấu trùng nang.

+ Thời điểm đào thải trứng rất thất thường: lý do tại sao chưa rõ, nhưng thực tế thấy thường có trứng đẻ phải sau 3 - 4 tháng kể từ khi ăn ấu trùng.

+ Sán lạc chỗ sẽ không bao giờ có trứng trong phân (nếu không phải là bị nhiều chỗ, trong đó có nhu mô gan và đường mật).

Không có trứng sán lá gan trong phân không có nghĩa là không bị nhiễm sán lá gan

2. Xét nghiệm sinh hoá máu và huyết học toàn phần:

- Công thức máu: tăng bạch cầu ái toan

- Chụp X-quang thấy toàn bộ hình ảnh bình thư­ờng hoặc một loạt các triệu chứng bất thư­ờng, bao gồm: giảm sự trong suốt toàn bộ phổi; bệnh lý hạch rốn phổi nhẹ vớimờ rốn phổi và mờ các ngoại vi mạch máu; mô hình viêm phổi kẻ, thô; các hạch ở kẻ phổi; các đốm cản quang nhỏ; tăng bạch cầu eosinophile, có thể cao hơn 20.000/ml. Chẩn đoán thường thấy ấu trùng giun chỉ bạch huyết mà chư­a bao giờ tìm thấy trong máu. Công dụng nhất của thử nghiệm là test cho loại Dirofilaria immitis CFT, th­ường dương tính rất mạnh. Chẩn đoán đ­ược xác định thông qua việc đáp ứng vơí điều trị thử.

- Thông số haemoglobin (Hb) thường nằm trong giới hạn bình thường

- Thông số về bilan gan mật gồm có bộ bilirubine, các transaminase, phosphatase kiềm, GGT, gamma globulin IgG, IgM và IgE đều tăng ở mức độ vừa phải. Nhất là trong giai đoạn cấp tính các transaminase tăng cao, khi men gan ASAT, ALAT và Alkalin phosphatase tăng biểu hiện một tình trạng tổn thương gan cấp và/ hoặc mạn tính. Bên cạnh đó, trong xét nghiệm sinh hoá chúng ta thường gặp tăng glutamate lactat dehydrogenase (GLDH) trong huyết tương.

+ GGT tăng biểu hiện một tình trạng nhiễm trùng mạn tính

+Trong giai đoạn tắc nghẽn, triệu chứng vàng da được thể hiện cùng với tăng bilirubine huyết thanh, khi bilirubine huyết thanh cao cùng lúc xuất hiện bilirubine niệu. Giữa các cơn đau bụng vùng túi mật có thể bilirubine huyết thanh bình thường, AKP, SGPT, SGOP và globulin huyết thanh (chủ yếu alpha globulin) thường tăng trong lúc đó albumin lại giảm (Chen và Mott., 1990).

- Bạch cầu ái toan giảm còn < 10%, trong giai đoạn cấp hoặc bệnh nhân mới đau đã được phát hiện ngay (7-10 ngày) thì loại bạch cầu này thường cao, có khi lên đến 24% (trung bình 8-14%), song nếu bệnh để lâu hoặc được điều trị thuốc không đặc hiệu trước đó, nhất là điều trị loét tiêu hoá sẽ có lượng bạch cầu ái toan thấp (1-4%) ; có thể biểu hiện thiếu máu, giảm thể tích hồng cầu trong bối cảnh chung của bệnh suy dưỡng và nhiễm đa giun.

- Trong trường hợp nghi ngờ khối tổn thương trên siêu âm, cần chẩn đoán phân biệt với khối u ở gan thường đề nghị làm alpha foeto-proteine (a-FP), nếu có thể làm thêm sinh thiết tế bào gan (fonction du foie).

XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN
XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN

Hình ảnh tổn thương da mặt trước đùi do sán lá gan

Hình ảnh các dát sẩn da vùng lưng do sán lá

XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN

XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN

Tổn thương da vùng bụng do sán lá

Nốt bầm dưới da cẳng tay do sán lá

3. Siêu âm tổng quát vùng gan mật:

Đây là một phương tiện chẩn đoán có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, kết quả phát hiện tuỳ thuốc vào kinh nghiệm người siêu âm, có khi cho thấy một hay nhiều vùng echo kém hoặc những ổ hoại tử, tương ứng với đường di chuyển của sán trong gan, đường mật. Tổn thương sán lá gan lớn thường nằm bên gan (P) nhiều hơn gan (T), điều này có thể do cấu trúc giải phẩu của gan hoặc hướng di chuyển của sán; nhiều nhất là các ổ tổn thương ở hạ phân thuỳ III, IV, V, VI, VII và VIII, rất hiếm trường hợp tổn thường nằm ở hạ phân thuỳ I, II, hiếm thấy trường hợp tổn thương nằn ở hạ phân thuỳ I (1/1000)

Trong một nghiên cứu chi tiết cắt ngang mô tả và tiền cứu về đặc điểm tổn thương gan do sán lá gan lớn trên siêu âm, các tác giả Trung tâm y khoa Medic, Thành phố Hồ Chí Minh (2004) cũng đã mô tả hình ảnh tổn thương rõ nét, phần lớn là tổn thương dạng thâm nhiễm với tăng bạch cầu ái toan, cấu trúc nhu mô gan không đồng nhất, tổn thương dưới bao gan, tụ dịch dưới bao gan, một hay nhiều ổ abces, tổn thương echo kém, echo dày, có vôi hóa hay không, tỏn thương dạng hemangiome, hạch rốn gan, dày vách túi mật, dấu vòng Olympic, dị vật đường mật đi kèm. Và cơ chế gây bệnh của Fasciolae cho gan và đường mật bước đầu đã được các tác giả xác định:

- Gây hoại tử abces

- Gây xơ hóa nhu mô gan

- Viêm gan khoảng cửa, vách hóa đường mật.

- Tổn thương đường mật (nơi định cư của sán)

- Những thương tổn này có thể nhầm lẫn với một khối u ác tính ở gan (nhất là HCC - hepatocellular carcinoma), hình ảnh siêu âm là sùi súp lơ nhiều lớp, sáng; cũng có thể tổn thương sán lá gan đồng thời với một khối u lành tính; hoặc một số khác khối tổn thương đó chính là do sán lá gan hình thành, thậm chí quá lớn gây chèn đường mật trong gan, xuất hiện vàng da trên lâm sàng.

Hiếm khi thấy được một sán trưởng thành trong túi mật hiện diện dưới dạng một vật thể di động, echo giàu. Một vài nghiên cứu trên thế giới cho thấy: trên siêu âm và CT Scannercó tổn thương mật độ giảm vói sự tập trung của những bóng mờ hình cục ở thuỳ gan (P) và sự dãn rộng các nhánh đường mật trong gan (chủ yếu thuỳ P). Một số nhánh đường mật dãn có những hang, kích thước trung bình. Đường mật bị bao quanh bởi một phần giảm mật độ làm thành từng ổ. Những điều tìm thấy này là biểu hiện của tắc nghẽn đường mật do biến chứng viêm đường mật, khi đó sẽ tạo thành các ổ hoại tử trong gan do quá trình tắc nghẽn này.

XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN

XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN

Hình ảnh sán lá gan trong tuí mật qua siêu âm (mũi tên)

Hình ảnh sán lá trong ống mật chủ (mũi tên)

4. Chụp X quang lồng ngực (Chest radiography):

Trên những bệnh nhân có triệu chứng về phổi đi kèm do biến chứng của sán lá gan lớn, thường thấy dấu hiệu tổn thương nhu mô dạng thâm nhiễm và thường rất kín đáo, tràn dịch màng phổi (P) thường gặp trong một số ca nặng do vỡ bao gan tràn lên hoặc viêm phổi phản ứng, biến chứng do để lâu hoặc ổ tổn thương sát bao gan.

5. Chụp cắt lớp (Computerized Tomographic Scanning):

Chụp cắt lớp có thể nhìn thấy đa tổn thương ở mức độ 1-10mm hoặc các tunnel trong nhu mô gan, mô hình tunnel lan rộng cho kết quả chẩn đoán chính xác, CT scan cũng có thể xác định một con sán trưởng thành trong ống mật chủ hoặc trong túi mật hoặc kẹp trong nhu mô gan.

6. Chụp cộng hưởng từ (MRI-Magnetic Resornance Imaging)

Chụp cộng hưởng từ có thể cho thấy dạng u hạt trong nhu mô gan và cung cấp cho ta các hình ảnh tương tự như CT scanning, song rõ và chi tiết hơn nhiều về tính chất tổn thương.

XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN

Hình ảnh tổn thương một vùng lỗ chỗ như tổ ong nằm ở vùng rìa sát bao gan.

7. Hút dịch mật hoặc dịch tá tràng dưới sự hướng dẫn của siêu âm (US-guided gallbladder / duodenal aspiration):

Sản phẩm của dịch hút ra có thể xem được trứng sán trong dịch mật hoặc dịch tá tràngtrong khi xét nghiệm tìm trứng sán trong phân là rất hiếm thấy.

8. Chụp đường mật (Cholangiography):

Có thể cho thấy sán trưởng thành nằm trên đường đi của hệ đường mật chung.

9. Chụp Technetium-99scan:
Có thể cho kết quả hình ảnh đa tổn thương trong nhu mô gan khoảng 50-80% tổng số ca bệnh (Robert W Tolan., 2006).

10. Sinh thiết gan (Liver biopsy): Sinh thiết gan sẽ cho biết tổn thương li ti của áp xe gan (microabcesses) và các đường hầm do hoại tử nhu mô gan, bọc bên ngoài là tổ chức viêm với tăng bạch cầu eosin. Ngoài ra, qua kết quả sinh thiết có thể chẩn đoán phân biệt với các ổ tổn thương nghi ngờ ung thư.

11. Soi ổ bụng (Laparoscopy):

Thông thường soi ổ bụng cho thấy các u, nốt màu trắng xám hay vàng, kích thước 2-20mm và có các bề mặt dạng dây xơ hóa. Một số trường hợp hiếm hơn thì gặp các node này ở khắp khoang phúc mạc và thành ruột.

12. Phẫu thuật ổ bụng thăm dò (Exploratory laparotomy):

Thủ thuật này có thể phát hiện sán lá gan lớn và trứng sán trong ổ bụng hoặc trong đường mật, dịch mật, dịch dưới bao gan, dịch trong phúc mạc.

13. Nội soi đường tiêu hóa trên (Upper gastrointestinal endoscopy):

Nội soi tiêu hóa có thể cho thấy tổn thương lấp đầy trong hệ đường mật và túi mật; nếu được thì chúng ta có thể loại bỏ sán thông qua nội soi. Tiêm thuốc tĩnh mạch cholecystokinin có thể giúp thúc đẩy quá trình đào thải trứng sán. Mặt khác, nội soi tiêu hóa giúp chẩn đoán phân biệt bệnh loét tiêu hóa với sán lá gan lơn.

14. Chọc dò màng phổi (Thoracentesis):

Tràn dịch màng phổi nếu được hút dịch và xét nghiệm cho thấy tăng bạch cầu eosin trong dịch màng phổi.

15. Xét nghiệm mô học (Histologic findings):

Sán lá gan lớn trưởng thành có thể tìm thấy trong mẫu giải phẩu tử thi (autopsy samples) hoặc mẫu bệnh phẩm cắt ra từ một cơ quan. Các khoang dịch dưới bao gan có thể thấy đầy các tổ chức hoại tử và tổ chức viêm nhiễm với sự tăng sinh bạch cầu eosin, mô tổn thương ở các vùng mà sán lạc chỗ có thể sinh mô hạt hoặc microabcesses.

Ngoài ra.

Một loạt xét nghiệm huyết thanh học rất phù hợp cho việc phát hiện kháng nguyên hoặc kháng thể lưu hành, song thử nghiệm xác định kháng thể là được ưa chuộng nhất bởi lẽ nó đơn gian và có dấu hiệu đảo ngược huyết thanh (seroconversion) xảy ra trong vòng 1-2 tuần sau nhiễm, sử dụng sản phẩm ngoại tiết (Exxcretory) hoặc của F.hepatica hoặc F.gigantica. Xét nghiệm miễn dịch liên kết hấp phụ men (ELISA) được Ruitenberg và cộng sự giới thiệu năm 1975 dựa trên cơ sở của Voller và cộng sự năm 1974 trong nghiên cứu bệnh sốt rét, sau đó nhiều tác giả đã áp dụng nó trong chẩn đoán và phát hiện bệnh sán lá gan (Lee và cs., 1981; Jin và cs., 1983; Yang và cs., 1984; Han và cs., 1986). Bên cạnh đó, xét nghiệm ELISA sẽ đánh giá vùng dịch tễ qua sàng lọc cũng như chẩn đoán bệnh đáng tin cậy hơn và khôngbỏ sót các trường hợp cần phải điều trị.

Các nhà khoa học trường Đại học Khon Kaen (Thailand) và Nagoya (Nhật Bản) đã nghiên cứu đặc điểm kháng nguyên tiết 27-kDa ở SLGL Fasciola gigantica trưởng thành nhiễm trên người cho biết kháng nguyên này là tách chiết tinh khiết được sử dụng như một phương pháp miễn dịch chẩn đoán sán lá gan lớn rất nhạy và rất đặc hiệu. Phân tích Lectin-blot chỉ ra rằng FG27 có cả glycan N và O. Trên điện di miễn dịch cho biết ít nhất 4antigenic – glycosylated protein ở giá trị lần lượt là 4.8, 4.9, 5.2 và 5.4. Sau khi loại bỏ một nửa glycan từ kháng nguyên bằng cách xử lý alkaline, khối phân tử FG27 giảm xuống còn 26.5 kDa như một thanh glycan bị gián đoạn. Qua thí nghiệm này cho thấy phân tử 26.5kDa tương tác với huyết thanh người bị nhiễm Fasciola mà hoàn toàn không mất đi tính kháng nguyên (antigenicity), nên tính kháng nguyên chủ yếu của FG27 là do epitop protein chứ không phải điểm nào khác (C.Tantrawatpan et al., 2003).

Các chuyên gia trên thế giới nhận thấy nếu dùng kháng nguyên sán lá phổi cho phản ứng với huyết thanh người bị sán lá gan lớn thì khoảng 30% người bị sán lá gan lớn có phản ứng chéo nhưng hiệu giá không cao (khoảng từ 1/200-1/800). Do vậy, chúng ta có thể có phản ứng chéo giữa các phản ứng huyết thanh của sán dây lợn, sán lá phổi và sán máng (Manson Barh et Bell, 1999).

Trước đây, một số quốc gia dùng phản ứng vón kết hồng cầu gián tiếp (Indirect Hemaaglutination Assay-IHA) cũng cho kết quả rất đặc hiệu (sử dụng ở châu Phi,Nam Sahara, Ai Cập, vùng đồng bằng sông Nile) (Jean-Francois Rossignol., 1998). Hoặc phản ứng cố định bổ thể (Complement Fixation - CF) hoặc miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFA) hoặc phản ứng trong da (IDT).

Test thử nội bì (Intradermal technique-IDT) với kháng nguyên Fasciola spp. Bước đầu cho độ nhạy và độ đặc hiệu gần 85%, chưa kể dương tính giả.

Miễn dịch điện di (Immunoelectroporeis Assay-IEA)) bước đầu cho kết quả có tỷ lệ dương tính giả cao, vả lại không đặc hiệu (Morishite., 1956; Gibson., 1969), nên đến nay dường như không thấy nêu lại trong các tạp chí y học chuyên ngành ký sinh trùng.

Hiện các nhà khoa học đang nghiên cứu một thử nghiệm mới là xét nghiệm xác định kháng nguyên trong phân (coproantigen test) và nếu được trước đó người ta cho đọng phân (coprostasis) ít nhất 1 ngày trước khi lấy mẫu được xem là test đầy hứa hẹn (theo Current Medical Diagnosis and Treatment, 2005, 2006). Hoặc phát hiện kháng nguyên trong phân bằng test ELISA sanwich đối với loài Fasciola gigantica ở Indonesia: hai kháng thể đơn dòng của F.gigantica được sử dụng cho thử nghiệm này để phát hiện kháng nguyên phân trên 9 con cừu nhiễm 300 metacercariae của F.gigantica. Kết quả cho thấy test này phát hiện được coproantigen ở 4/7 con cừu trong 5 tuần lễ đầu tiên sau nhiễm, nhưng nếu 7 tuần lễ thì phát hiện hết tất cả 7 con nhiễm, điều này cho thấy là kỹ thuật Sanwich ELISA có thể phát hiện được coproantigen trong giai đoạn mà sán chưa trưởng thành và quan trọng hơn là phát hiện ra nhiễm trùng tiềm tàng của fascioliasis (Endah Esstuningsih et al., 2004).

Huyết thanh chẩn đoán cho kết quả sớm trước khi hình thành tổn thương trên siêu âm, ngay cả giai đoạn xâm nhập, nhất là phương pháp ELISA hoặc Immunoblot có độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác rất cao (> 95%) nếu dùng kháng nguyên tinh khiết và đặc hiệu. Khác với các kít chẩn đoán bệnh giun đũa chó Toxocara canis là dùng ấu trùng để chế kít chẩn đoán (anti-toxocara) thì phần lớn các xét nghiệm huyết thanh, nhất là ELISA đã sử dụng kháng nguyên từ con sán trưởng thành hoặc sán non (cathepsin L1 cysteine proteinase), đó là phát hiện chất cathepsin L1 cysteine proteinase (Sandra M.O’neill và cs., 2000) và đặc biệt thử nghiệm này không cho phản ứng chéo với schistosomiae mansoni, cysticercosis, hydatiosis và bệnh nhân mắc bệnh Chaga’s, song để chính xác cho xét nghiệm, các nhà chuyên môn khuyên nên sử dụng gan bò, cừu bị nhiễm bệnh để điều chế kháng nguyên chuẩn cho kít chẩn đoán theo phương pháp Ouchterlony.

Theo một nghiên cứu về sự có mặt của kháng thể F2 antibodies trong quá trình nhiễm Fasciola gigantica ở gia súc, các nhà khoa học của Viện Institute Pourquier ở Pháp đã phát triển một phương pháp ELISA có độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao, có khả năng chẩn đoán mức rất thấp của Fasciolae nhiễm vào. Kết quả nghiên cứu cho biết đáp ứng miễn dịch có thể phát hiện khoảng ngày thứ 7-14 sau nhiễm và xét nghiệm ELISA trở nên âm tính sau 12 tuần điều trị bằng triclabendazole (M Gull, N Fourie và cs., 2005)

Hiện cũng đang có một kỹ thuật chẩn đoán ELISA khác là ELISA antigen capture technique cho hiệu quả rất tốt vì nó phát hiện được kháng nguyên lưu hành trong máu với độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 98%, có thể phát hiện kháng nguyên này trong tiêu bản phân 3-4 tuần trước khi xuất hiện trứng trong phân (Essentials of Tropical infectious diseases., 2005)

Dù ELISA có độ nhạy và độ đặc hiệu cao như thế, rất có ích cho chẩn đoán. Song, kết quả ELISA cũng dương tính kéo dài sau khi điều trị, thường 1-3 tháng, có trường hợp đến1-2 năm, song về hiệu giá kháng thể giảm dần đến âm tính (ngoài trừ bệnh nhân tái nhiễm), vì thế, nếu chúng ta không cân nhắc về kết quả sẽ dẫn đến một liệu trình điều trị mới không cần thiết (kháng thể ở đây đề cập thường là lớp IgG).

Một phương pháp khác cũng đầy hứa hẹn cho chẩn đoán bệnh sán lá gan là kỹ thuật ELISA lồng/kẹp (Sandwich Enzyme-Linked Immunosorbent Assay) để phát hiện kháng nguyên tiết Excretory/secretory antigen- ES) trong mẫu bệnh phẩm phân bệnh nhân sán lá gan. Thử nghiệm này không có phản ứng chéo với các bệnh khác và có ích trong việc theo dõi sau điều điều trị thuốc. Điều này gợi ý nếu phản ứng âm tính có lẽ đã điều trị khỏi và ngược lại dương tinh sẽ còn trứng sán trong phân (Anam Esspino và cs., 1993).

Hiện nay Phòng khám Chuyên khoa ký sinh trùng Sài Gòn áp dụng 2 phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng đơn giản và hiệu quả nhất là xét nghiệm phân và xét nghiệm miễn dịch Elisa để chẩn đoán bệnh sán lá gan đỡ tốn kém về thời gian và kinh tế cho bệnh nhân. Siêu âm và các phương pháp chẩn đoán khác chỉ thực hiện khi thật cần thiết.

BS. Nguyễn Ngọc Ánh - BS. Đặng Thị Nga

.

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Thường xuyên ngứa da
nên kiểm tra giun, sán
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
LIÊN HỆ BS.NGA
0912.444.663
.
Thời gian khám bệnh
Từ thứ 2 đến thứ 7
Mở cửa từ:
07:00 (am) - 17:00 (pm)
Nghỉ ngày Chủ nhật
.
PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ
ÁNH NGA
GIẤY PHÉP SỐ
02523/SYT-HCM-GPHĐ
MÃ SỐ THUẾ
0312466011/SKHĐT-HCM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN402 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP. HCM

. ...........028 38 30 23 45

THỐNG KÊ

NIỀM TIN VỚI NGƯỜI BỆNH

LỜI CẢM ƠN